Binh Pháp Tôn Tử
Thiên thứ sáu: Hư Thực
Danh sách chương
【Nguyên tác】
Tôn Tử viết:
Phàm kẻ nào đến chiến địa trước để đợi địch thì nhàn nhã, kẻ nào đến chiến địa sau mà vội vã ứng chiến thì mệt mỏi. Thế nên, người giỏi đánh trận là người điều khiển quân địch chứ không để quân địch điều khiển mình. Có thể khiến quân địch tự đến, ấy là dùng lợi mà dụ; có thể khiến quân địch không thể đến, ấy là dùng hại mà ngăn. Cho nên, địch nhàn hạ ta có thể làm cho mệt mỏi, địch no đủ ta có thể làm cho đói khát, địch yên ổn ta có thể làm cho biến động. Đánh vào nơi địch buộc phải cứu, hành quân đến nơi địch không ngờ tới.
Đi ngàn dặm mà không mệt mỏi là vì đi vào nơi không có quân địch; đánh mà chắc thắng là vì đánh vào nơi địch không canh phòng. Giữ mà chắc chắn là vì giữ ở nơi địch nhất định phải đánh. Thế nên, người giỏi tấn công khiến kẻ địch không biết đâu mà giữ; người giỏi phòng thủ khiến kẻ địch không biết đâu mà đánh. Vi diệu thay, vi diệu đến mức vô hình; thần kỳ thay, thần kỳ đến mức vô thanh, cho nên mới có thể làm kẻ nắm giữ vận mệnh của quân địch. Tiến mà không ai ngăn nổi là do đánh vào chỗ thực hư của địch; lui mà không ai đuổi kịp là do hành quân thần tốc khiến địch không theo kịp. Ta muốn đánh, địch dù thành cao hào sâu cũng buộc phải ra chiến đấu với ta, ấy là do ta đánh vào chỗ địch tất yếu phải cứu; ta không muốn đánh, dù chỉ vẽ đất mà giữ, địch cũng không thể chiến đấu với ta, ấy là do ta làm chệch hướng tiến quân của địch. Ta ẩn mình khiến địch lộ hình, như thế quân ta tập trung mà quân địch bị chia tán. Ta tập trung làm một, địch chia ra làm mười, ấy là lấy mười đánh một. Như thế ta đông mà địch ít, có thể lấy đông đánh ít thì đối thủ của ta sẽ rơi vào thế yếu. Nơi ta định đánh không để cho địch biết, địch không biết thì phải phòng bị nhiều nơi, địch phòng bị nhiều nơi thì quân số ở mỗi nơi sẽ ít đi. Thế nên, phòng bị phía trước thì phía sau mỏng, phòng bị phía sau thì phía trước mỏng, phòng bị bên trái thì bên phải ít, phòng bị bên phải thì bên trái ít, không nơi nào không phòng bị thì không nơi nào không ít quân. Quân ít là do phải phòng bị người; quân đông là do khiến người phải phòng bị mình. Thế nên, biết được nơi tác chiến, biết được ngày tác chiến thì dù cách ngàn dặm cũng có thể hội quân để đánh; không biết nơi tác chiến, không biết ngày tác chiến thì cánh trái không cứu được cánh phải, cánh phải không cứu được cánh trái, phía trước không cứu được phía sau, phía sau không cứu được phía trước, huống hồ là nơi xa cách hàng chục dặm, nơi gần cách vài dặm!
Theo sự suy tính của ta, quân nước Việt dù đông thì có ích gì cho việc thắng bại đâu!
Thế nên nói: Chiến thắng có thể tạo ra được. Địch dù đông nhưng có thể khiến chúng không thể chiến đấu. Do đó, dùng mưu kế mà biết được sự đắc thất của địch, dùng trinh sát mà biết được quy luật động tĩnh của địch, dùng hình thế mà biết được chỗ tử sinh, dùng giao tranh nhỏ mà biết được nơi thừa thiếu của địch. Cho nên, đỉnh cao của việc dàn quân là đạt đến mức vô hình. Vô hình thì gián điệp dù sâu cũng không thể nhìn thấu, kẻ trí dù giỏi cũng không thể lập mưu. Dựa vào hình thế địch mà lập ra kế thắng lợi, điều này đại chúng không thể thấu hiểu. Mọi người đều biết hình thế giúp ta thắng lợi, nhưng không ai biết được ta dùng hình thế nào để chế phục quân địch. Cho nên, chiến thắng không lặp lại theo khuôn mẫu cũ mà biến hóa khôn lường theo hình thế quân địch.
Binh hình tượng như nước, dòng nước chảy tránh chỗ cao mà hướng xuống chỗ thấp, dùng binh tránh chỗ thực mà đánh vào chỗ hư; nước dựa vào địa thế mà tạo dòng chảy, binh dựa vào tình địch mà giành chiến thắng. Cho nên binh không có thế cố định, nước không có hình cố định. Kẻ có thể dựa vào sự biến hóa của quân địch mà giành thắng lợi thì gọi là thần. Thế nên Ngũ hành không có hành nào luôn thắng, bốn mùa không có mùa nào cố định mãi, ngày có dài ngắn, trăng có tròn khuyết.
【Bạch thoại tinh đọc】
Phương châm tổng quát của việc cầm quân đánh trận là: kẻ vào trận địa trước chờ địch sẽ ở tư thế thong dong, tĩnh tại; kẻ vào sau phải vội vàng ứng chiến sẽ vô cùng mệt mỏi. Vì vậy, người giỏi tác chiến rất chú trọng việc điều động quân địch thay vì bị địch điều động. Quân ta tấn công mà địch không thể chống đỡ là do ta đánh vào chỗ sơ hở, trống trải của chúng; quân ta rút lui mà không bị truy kích là do hành quân thần tốc khiến địch không đuổi kịp. Khi tác chiến, dù kẻ địch xây thành cao hào sâu, chúng vẫn buộc phải ra ngoài giao chiến, ấy là bởi ta tấn công vào vị trí trọng yếu mà chúng không thể không cứu viện. Do đó, các tướng lĩnh quân sự phải thận trọng suy tính mưu lược của đối phương, dùng kế để điều động kẻ địch nhằm thấu hiểu quy luật hành động của chúng; dùng giả tượng để dụ dỗ địch nhằm nắm bắt thực lực mạnh yếu. Tóm lại, người giỏi đánh trận phải là người có thể nắm bắt và vận dụng linh hoạt kế sách “hư thực”.
【Chiến lệ kinh điển】
Trận Lưỡng Lăng
Thời Chiến Quốc, nước Ngụy và nước Tề đã nổ ra hai cuộc chiến quy mô lớn tại Quế Lăng và Mã Lăng. Quân đội hai bên kịch chiến ác liệt, trời đất mù mịt. Chiến thắng cuối cùng thuộc về phe nào? Mời xem chi tiết dưới đây.
Nói về thời kỳ đầu Chiến Quốc, nước Ngụy áp dụng phương lược trị quốc mới, đẩy mạnh cải cách chính trị. Về nông nghiệp, họ xây dựng hệ thống thủy lợi, khuyến khích khai khang, thúc đẩy sản xuất. Về quân sự, Ngụy tổ chức quân đội thường trực, huấn luyện nghiêm ngặt, nâng cao sức chiến đấu. Những điều này khiến quốc lực nước Ngụy trở nên lớn mạnh hơn trước. Lúc bấy giờ, nước Hàn và nước Ngụy kiểm soát vùng đất rộng lớn phía Nam và phía Bắc Hoàng Hà, vị trí địa lý trọng yếu, được coi là trung khu của thiên hạ. Lãnh thổ nước Ngụy bao gồm một phần Thiểm Tây, vùng trung bộ và đông nam Sơn Tây, trung bắc bộ Hà Nam và nam bộ Hà Bắc ngày nay. Do nằm ở vị trí trung tâm giữa các đại quốc: phía Đông là Tề, phía Nam là Sở, phía Bắc là Triệu, phía Tây là Hàn và Tần, nên bất kỳ sự bành trướng nào của Ngụy cũng đều chạm đến lợi ích của các chư hầu. Việc mở rộng bốn phía vốn rất nguy hiểm, dễ rơi vào thế bị bao vây. Do đó, từ thời Ngụy Văn Hầu đến Ngụy Vũ Hầu, nước Ngụy cơ bản duy trì chính sách liên kết với Hàn và Triệu. Năm 431 TCN, Ngụy xuất quân đánh Tần ở phía Tây, chiếm được vùng Hà Tây rộng lớn. Sau đó, Ngụy liên kết với Triệu và Hàn đánh bại quân Tề, quân Sở, giành thêm nhiều đất đai, quốc lực tăng tiến nhanh chóng.
Sự lớn mạnh của Ngụy khiến Triệu và Hàn bất an, mối quan hệ đồng minh bắt đầu rạn nứt. Năm 370 TCN, Ngụy Vũ Hầu qua đời, các con tranh giành vương vị gây ra nội loạn. Triệu và Hàn thừa cơ tấn công Ngụy, khiến quân Ngụy đại bại, suýt chút nữa vong quốc. Sau đó, Ngụy Huệ Vương lên ngôi, các cuộc chiến giữa Ngụy với Triệu và Hàn nổ ra liên miên. Năm 362 TCN, quân Ngụy đánh bại liên quân Triệu – Hàn, chiếm vùng Bì Lao thuộc Sơn Tây ngày nay. Cùng lúc đó, Tần tranh thủ lúc Ngụy đang bận giao chiến đã chiếm lấy Bàng Thành của Ngụy. Để thuận tiện bành trướng tại Trung Nguyên và tránh sự đe dọa của Tần, Ngụy Huệ Vương dời đô từ An Ấp đến Đại Lương, nên nước Ngụy còn được gọi là nước Lương. Trong khi Ngụy phát triển nhanh chóng thì nước Tề cũng trỗi dậy mạnh mẽ. Năm 348 TCN, Tề Uy Vương thực hiện cải cách, phong Trâu Kỵ làm Tướng quốc, trọng dụng Điền Kỵ, Tôn Tẫn, Điền Anh cùng nhiều hiền tài, tăng cường cai trị và huấn luyện quân sự. Dưới sự trị vì của Tề Uy Vương, quốc lực nước Tề lớn mạnh chưa từng có. Việc Ngụy không ngừng mở rộng về phía Đông đã đe dọa đến Tề. Nước Tề quyết định phản công bằng cách khích bác mâu thuẫn giữa Ngụy với Hàn, Triệu, rồi mới trực tiếp giao chiến. Đó chính là trận Quế Lăng và trận Mã Lăng nổi tiếng.
Năm 354 TCN, nước Triệu để đối kháng với Ngụy đã phát động chiến tranh với nước Vệ nhằm chiếm lãnh thổ vùng đệm. Vệ khi đó là thuộc quốc của Ngụy. Nước Ngụy lập tức cử tướng Bàng Quyên dẫn tám vạn quân tấn công đô thành Hàm Đan của Triệu. Sau một năm kịch chiến, quân Triệu dần không chống đỡ nổi, bèn sai người cầu cứu Tề Uy Vương. Tề Uy Vương vốn đang muốn bành trướng thế lực nên sảng khoái đồng ý. Trong lúc bàn bạc đối sách, Tướng quốc Trâu Kỵ phản đối xuất binh, nhưng đại thần Đoạn Can Bằng cho rằng không cứu Triệu là bất nghĩa và bất lợi cho Tề. Ông đề xuất trước tiên phái một phần binh lực đánh vào Tương Lăng của Ngụy ở phía Nam để khiến Ngụy rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch; đợi khi Ngụy đánh hạ được Hàm Đan, binh lực đã hao tổn nhiều, lúc đó quân Tề mới ra tay. Tề Uy Vương nghe theo, không cứu Hàm Đan ngay mà lệnh cho Tề phối hợp với Tống và Vệ đánh Tương Lăng. Cùng lúc đó, Sở và Tần cũng thừa cơ chiếm đất Ngụy. Bàng Quyên không màng đến các hướng khác mà dốc sức đánh Hàm Đan. Quân Ngụy vây hãm một năm, tổn thất nặng nề. Khi Tề Uy Vương thấy thời cơ đã đến, bèn cử Điền Kỵ làm thống soái, Tôn Tẫn làm quân sư dẫn tám vạn quân cứu Triệu. Lúc này, Tôn Tẫn đưa ra kế sách “Vây Ngụy cứu Triệu” nổi tiếng. Ông cho rằng quân Tề nên tận dụng lúc chủ lực Ngụy đang ở tiền tuyến, trong nước trống trải mà trực tiếp đánh vào kinh đô Đại Lương. Như thế, quân Ngụy buộc phải rút khỏi Hàm Đan để cứu viện kinh sư, quân Tề sẽ mai phục giữa đường, chắc chắn giành thắng lợi. Điền Kỵ nghe theo. Để tạo giả tượng, Điền Kỵ trước tiên sai quân đánh Bình Lăng – một trọng trấn dễ giữ khó đánh nằm giữa Vệ và Tống. Hành động quân sự bất hợp lý này vừa khiến quân Tề thêm quyết tâm, vừa khiến Bàng Quyên chủ quan cho rằng tướng Tề bất tài, tiếp tục vây khốn Hàm Đan. Kết quả, quân Tề vờ thua ở Bình Lăng rồi rút đi. Sau đó, Tôn Tẫn sai Điền Kỵ phái khinh kỵ binh đánh thẳng vào Đại Lương để chọc giận và điều động Bàng Quyên quay về, đồng thời tập kết quân chủ lực tại điểm yếu của địch trên đường rút. Điền Kỵ hoàn toàn làm theo mưu kế này. Cùng lúc đó, các nước khác liên tục tấn công vùng biên giới Ngụy. Ngụy bị tứ bề thọ địch, trong nước trống rỗng, Bàng Quyên cảm thấy bất ổn liền dẫn quân tức tốc hồi kinh. Tôn Tẫn biết tin liền chuyển quân đến Quế Lăng (Hà Nam ngày nay), nơi quân Ngụy tất yếu phải đi qua. Kết quả, quân Ngụy sau thời gian dài chinh chiến và hành quân vội vã đã vô cùng mệt mỏi, không thể chống đỡ đòn tấn công mãnh liệt của quân Tề. Trận Quế Lăng kết thúc với thắng lợi thuộc về nước Tề.
Sau trận Quế Lăng, Ngụy lại nảy sinh mâu thuẫn lớn với Tần và Sở. Chiến tranh liên miên khiến Ngụy kiệt quệ tài lực, vật lực và nhân lực, thế ngoại giao ngày càng bị cô lập. Tề Uy Vương lại nắm lấy cơ hội, liên kết với Tần để cùng đánh Ngụy. Năm 304 TCN, quân Ngụy tấn công nước Hàn. Hàn không chống đỡ nổi bèn cầu cứu Tề. Trâu Kỵ không tán thành cứu viện, Điền Kỵ thì muốn cứu ngay vì sợ Hàn bị diệt sẽ đe dọa Tề. Tôn Tẫn tán thành việc cứu Hàn nhưng cho rằng không nên ra quân quá sớm. Ông nhận định lúc này hai quân Ngụy – Hàn đều chưa mệt mỏi, nếu đánh ngay sẽ khó thắng và không khiến Hàn phục tùng hoàn toàn. Nên đợi lúc Hàn nguy khốn nhất mới xuất binh, như thế Hàn vừa mang ơn sâu, ta vừa dễ dàng đánh bại quân Ngụy đã rã rời, một mũi tên trúng hai đích. Tề Uy Vương nghe theo, hứa hẹn với sứ giả nước Hàn nhưng âm thầm chờ đợi. Quân Hàn được hứa hẹn nên tự tin giao chiến với Ngụy năm trận nhưng đều thất bại thảm hại. Khi tình thế đã hết sức nguy cấp, binh mã hai bên đều đã kiệt quệ, Tề Uy Vương mới sai Điền Kỵ và Tôn Tẫn xuất quân.
Ngụy Huệ Vương vốn là kẻ hữu dũng vô mưu, gây thù chuốc oán khắp nơi mà không biết rút kinh nghiệm. Khi hay tin Tề cứu Hàn, ông ta lập tức rút quân khỏi Hàn, sai Thái tử Thân và Bàng Quyên dẫn mười vạn đại quân quyết chiến với Tề. Tôn Tẫn phân tích: “Ngụy quân vốn khinh thường quân Tề, cho rằng quân ta nhát gan, nay ta có thể lợi dụng tâm lý này để đánh lừa chúng.” Ông chủ trương dùng kế “Rút bếp” để dụ địch. Ngày thứ nhất rút lui xây bếp cho mười vạn người ăn, ngày thứ hai giảm xuống còn năm vạn, ngày thứ ba chỉ còn ba vạn. Bàng Quyên đuổi theo thấy số bếp giảm dần thì đắc thắng cho rằng quân Tề đào ngũ quá nửa vì sợ hãi. Hắn bỏ lại bộ binh, chỉ dẫn khinh kỵ đuổi gấp. Tôn Tẫn dự tính thời gian quân Ngụy đến Mã Lăng – nơi có địa thế hiểm trở, đường hẹp cây cối rậm rạp – để bố trí phục binh. Ông cho các cung thủ tinh nhuệ mai phục hai bên đường. Bàng Quyên quả nhiên trúng kế đi vào cửa tử lúc trời tối. Quân Tề vạn tiễn tề phát, quân Ngụy đại loạn, thây chất đầy đường. Bàng Quyên biết đại thế đã mất, uất hận tự sát. Quân Tề thừa thắng xông lên, đánh bại tàn quân và bắt sống Thái tử Thân. Trận Mã Lăng khiến Ngụy tổn thất hơn mười vạn quân, nguyên khí đại thương và từ đó suy yếu hẳn. “Lưỡng Lăng chi chiến” là những trận đánh quyết định vị thế bá chủ giữa Tề và Ngụy. Trong hai trận này, Tôn Tẫn liên tục tạo giả tượng điều động quân địch, khiến đối phương rơi vào thế bị động. Việc vận dụng chiến lược hư thực tài tình đã tạo nên huyền thoại trong lịch sử quân sự cổ đại Trung Hoa.
Loạn Bảy Nước
Đây là một cuộc đại động loạn xảy ra thời Tây Hán. Bảy vị chư hầu vương liên kết chống lại triều đình, khiến chiến hỏa lan tràn, xã hội bất ổn. Liệu triều đình có dẹp yên được phản loạn? Số phận bảy vị vương gia sẽ ra sao? Mời xem chi tiết.
Sau khi Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ lập ra nhà Tây Hán, để củng cố cai trị, ông đã mượn cớ giết hại các công thần khác họ như Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố. Lưu Bang cho rằng nhà Tần diệt vong nhanh là do không phong vương cho người cùng họ khiến Thiên tử đơn độc khi có loạn. Vì vậy, ông phong vương cho con em họ Lưu và thề rằng: “Sau này ai không phải họ Lưu mà xưng vương, thiên hạ chư hầu sẽ cùng diệt nó”. Lưu Bang đã phong cho Tề Vương, Yến Vương, Triệu Vương, Ngô Vương, Sở Vương… Để hạn chế thế lực, ông quy định Tướng quốc các nước chư hầu phải do Hoàng đế bổ nhiệm, quân đội do trung ương quản lý. Ban đầu các vương gia khá quy củ, nhưng theo đà phát triển kinh tế, thế lực họ ngày càng lớn. Đến thời Hán Văn Đế, mâu thuẫn giữa chư hầu và triều đình trở nên gay gắt. Đại thần Giả Nghị khuyên nên phân phong nhỏ các nước chư hầu để làm yếu họ. Sau đó, Tiều Thác lại đề xuất thu hồi đất đai về trung ương. Năm 164 TCN, Văn Đế chia nhỏ đất của Đại Vương, Tề Vương và Hoài Nam Vương. Các chư hầu không cam tâm, trong đó Ngô Vương Lưu Tỵ phản kháng dữ dội nhất. Ngô Vương đóng đô ở Quảng Lăng, quản lý vùng Dự Chương, Hội Kê rộng lớn, lại có mỏ đồng đúc tiền, nước muối nấu muối, giàu nứt đố đổ vách, từ lâu đã mưu đồ soán ngôi.
Khi Hán Cảnh Đế lên ngôi, thế lực chư hầu đã đủ sức đối đầu triều đình. Tiều Thác khuyên Cảnh Đế thực hiện chính sách “tước phiên” (cắt bớt đất phong), cho rằng sớm muộn gì họ cũng phản, chi bằng ra tay trước. Cảnh Đế bắt đầu cắt đất của Sở Vương và Triệu Vương. Ngô Vương Lưu Tỵ nhân cơ hội này tập hợp các vương gia khác khởi binh tạo phản. Cuộc nội chiến của giai cấp thống trị Tây Hán bùng nổ. Lưu Tỵ bí mật liên kết với Giao Tây Vương, hứa hẹn chia đôi thiên hạ. Năm 154 TCN, khi Cảnh Đế xuống chiếu thu hồi hai quận của Ngô quốc, Lưu Tỵ lập tức lấy danh nghĩa “diệt trừ gian thần Tiều Thác” để xuất binh, đồng thời kêu gọi các nước Giao Đông, Sở, Triệu… hưởng ứng. Trước khi lên đường, tướng quân Điền Lộc Bá khuyên Ngô Vương nên chia quân theo đường thủy tiến đánh Hoài Nam, Trường Sa rồi mới hội quân tại Vũ Quan, nhưng Ngô Vương không tin tưởng nên bác bỏ. Tướng quân Hoàn thì khuyên nên bỏ qua các thành nhỏ, tiến thẳng chiếm kho vũ khí ở Lạc Dương và kho lương Áo Thương để chiếm ưu thế chiến lược, nhưng cũng bị khước từ. Lưu Tỵ dẫn hai mươi vạn quân cùng quân Sở tiến đánh vùng đất Lương.
Hán Cảnh Đế ban đầu dùng chính sách nhu hòa, buộc phải giết Tiều Thác để xoa dịu chư hầu nhưng bảy vương không dừng lại mà cho rằng Hoàng đế nhát gan. Cảnh Đế quyết định trấn áp, phong Chu Á Phu làm Thái úy dẫn quân nghênh chiến; phái Lịch Ký đánh Triệu, Loan Bố đánh Tề, Đậu Anh trấn thủ Huỳnh Dương để giám sát tình hình. Chu Á Phu là danh tướng có kinh nghiệm, từng được Hán Văn Đế khen ngợi là người có thể ủy thác trọng trách lúc quốc gia hữu sự. Chu Á Phu nhận định quân Sở dũng mãnh, khó thắng ngay, nên dùng kế bỏ rơi đất Lương để cắt đứt đường lương thảo của địch.
Trên đường hành quân, Chu Á Phu nghe lời khuyên của Triệu Thiệp, thay đổi lộ trình để tránh mai phục của Ngô quân tại vùng Hào Sơn, Trì. Ông thần tốc đến Lạc Dương, chiếm quyền kiểm soát kho vũ khí và lương thực tại Huỳnh Dương, tạo nền móng vững chắc cho cuộc chiến. Sau đó, ông tiêu diệt cánh quân mai phục của địch và thỉnh giáo Đặng đô úy. Đặng đô úy hiến kế: Ngô quân đang hăng máu, không nên đối đầu trực diện; nên nhử địch về phía Đông Bắc, để Lương Vương tử thủ thu hút hỏa lực, còn quân chủ lực triều đình sẽ cắt đứt đường tiếp tế tại Hoài Tứ Khẩu. Đợi địch hết lương, mệt mỏi sẽ ra đòn quyết định. Kế này hoàn toàn trùng khớp với ý đồ của Chu Á Phu.
Quân Ngô – Sở đánh Lương cực kỳ hung hãn, Lương Vương cầu cứu liên tục nhưng Chu Á Phu vẫn án binh bất động tại Xương Ấp, chỉ âm thầm phái khinh kỵ cắt đường lương. Khi quân liên minh mệt mỏi vì vây hãm Tuy Dương mãi không hạ được, lại bị cắt đứt đường lui, Lưu Tỵ quyết định dốc toàn lực quyết chiến với Chu Á Phu. Lưu Tỵ dùng kế vờ đánh phía Đông Nam nhưng thực chất tập kích phía Tây Bắc, song đã bị Chu Á Phu nhìn thấu và tăng phòng thủ. Cuối cùng, quân liên minh hết lương, sĩ khí suy sụp phải rút lui. Chu Á Phu lúc này mới tung quân truy kích, đánh tan quân Ngô – Sở. Sở Vương tự sát, Ngô Vương trốn chạy sang Đông Việt rồi bị giết tại đó.
Cùng lúc đó, tại các mặt trận khác, quân triều đình cũng liên tiếp thắng lợi. Loan Bố đánh bại quân liên minh Giao Tây ở Lâm Truy. Triệu Vương cấu kết với Hung Nô thủ hiểm ở Hàm Đan nhưng bị Lịch Ký và Loan Bố dùng nước sông vây tưới, cuối cùng phải tự sát. Cuộc “Loạn Bảy Nước” hoàn toàn bị dẹp yên. Chiến thắng này nhờ vào tài điều binh khiển tướng của Chu Á Phu: dùng giả tượng để đánh lừa địch (đổi lộ trình hành quân), dùng hư thực để tiêu hao địch (cố thủ cắt lương), biến thế mạnh của địch thành thế yếu.
Tấn diệt Ngô
Năm 263, nước Ngụy diệt Thục, phá vỡ thế chân vạc. Sau đó, nhà Tư Mã thâu tóm quyền lực. Năm 265, Tư Mã Viêm phế Tào Hoán, lập ra nhà Tấn. Lúc này chỉ còn Kinh Châu, Dương Châu và Giao Châu nằm trong tay nước Ngô. Nhà Tấn luôn nhăm nhe tiêu diệt Ngô để thống nhất thiên hạ.
Dân số nhà Tấn lúc đó gấp đôi Ngô quốc. Tư Mã Viêm muốn đánh Ngô nhưng phải đợi phục hồi quốc lực sau trận diệt Thục. Ông thực hiện nhiều chính sách thu phục lòng dân: giảm thuế vùng Ích Châu, cho phép tướng lĩnh mang theo gia quyến ra trận, trọng dụng hàng tướng Thục – Ngô. Về kinh tế, ông phế bỏ đồn điền, khuyến khích khai hoang, xây thủy lợi. Về quân sự, ông cho đóng chiến thuyền, luyện thủy quân quy mô lớn tại Ba Thục.
Trong khi đó, nước Ngô dù có thủy quân mạnh nhưng nội bộ lục đục sau khi Tôn Quyền qua đời. Tôn Hạo lên ngôi nhưng là kẻ tàn bạo, khiến đại thần sợ hãi, dân chúng oán than, nhiều người bỏ sang hàng Tấn. Tư Mã Viêm dùng chính sách nhu hòa với hàng dân để làm lung lạc lòng người nước Ngô. Năm 272, việc đóng tàu được đẩy mạnh. Dù một số quan lại như Ngô Ngạn, Lục Kháng đã cảnh báo về việc mảnh gỗ vụn trôi từ thượng nguồn sông Trường Giang báo hiệu quân Tấn đang đóng tàu, nhưng Tôn Hạo vẫn lơ là. Hắn bị lừa bởi thái độ hữu hảo giả tạo từ sứ thần nhà Tấn và tin rằng Trường Giang là hiểm trở không thể vượt qua.
Năm 279, Tư Mã Viêm chính thức phát binh. Hơn hai mươi vạn quân Tấn chia làm sáu lộ tấn công. Các lộ quân của Tư Mã Trụ, Vương Hồn đánh vào Kiến Nghiệp để kìm chân chủ lực Ngô; Vương Tuấn dẫn bảy vạn thủy binh từ Ba Thục thuận dòng lao xuống. Vương Tuấn dùng bè tre dọn sạch chông sắt và dùng dầu hỏa đốt đứt xích sắt mà quân Ngô giăng trên sông. Quân Tấn thế như chẻ tre, liên tiếp hạ các thành Tây Lăng, Kinh Môn, Di Đạo. Đỗ Dự và Chu Chỉ phối hợp dùng kế nghi binh (đốt đuốc, cắm cờ giả trên núi) khiến quân Ngô hoảng sợ, dễ dàng chiếm được Lạc Hương và Giang Lăng.
Tháng Giêng năm 280, Vương Hồn chiếm giữ vùng trọng yếu bờ Bắc Trường Giang. Tôn Hạo sai Tướng quốc Trương Tiễu cùng ba vạn quân vượt sông nghênh chiến nhưng bị quân Tấn đánh tan tác. Tin bại trận khiến Kiến Nghiệp rúng động. Các lộ quân Tấn hội sư dưới chân thành Kiến Nghiệp. Tôn Hạo định dùng kế ly gián gửi hàng thư cho ba vị tướng Tấn nhưng Vương Tuấn hành quân quá nhanh, đã áp sát kinh thành. Không còn cách nào khác, Tôn Hạo buộc phải đầu hàng. Nhà Tấn thống nhất Trung Hoa. Thắng lợi của nhà Tấn là kết quả của sự chuẩn bị chu đáo và kế sách dùng giả tượng làm tê liệt ý chí phòng thủ của đối phương.
Lý Uyên đoạt lấy Quan Lũng và Trung Nguyên
Đường triều là vương triều hùng mạnh bậc nhất lịch sử Trung Quốc, do Lý Uyên – vốn là một quân phiệt ở Sơn Tây – tạo dựng nên. Quá trình lập quốc của ông diễn ra như thế nào?
Cuối thời Tùy, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Đến năm 617, ba thế lực lớn nhất là Lý Mật, Đậu Kiến Đức và Đỗ Phục Uy đã chia cắt nhà Tùy thành nhiều mảnh. Lý Uyên lúc đó trấn thủ Thái Nguyên, một trọng trấn có lương thảo đủ dùng mười năm. Nhận thấy Quan Trung binh lực trống rỗng do Tùy Dạng Đế điều đi dẹp loạn ở xa, Lý Thế Dân đã khuyên cha khởi nghĩa.
Lý Uyên là kẻ lão luyện, ông áp dụng bốn phương sách: Một là giương cờ phò tá nhà Tùy để tránh xung đột sớm với phe bảo hoàng; hai là giả vờ kết đồng minh và tôn Lý Mật làm minh chủ để Lý Mật chủ quan không phòng bị; ba là cầu hòa với Đột Quyết để bảo vệ hậu phương; bốn là giữ quân kỷ nghiêm minh để lấy lòng dân. Các kế sách này đều nhằm mục đích đánh lừa đối thủ và bảo toàn thực lực.
Tháng 7 năm 617, Lý Uyên tiến quân vào Quan Trung. Dù gặp mưa lớn và bị hai tướng Tùy là Tống Lão Sinh và Khuất Đột Thông chặn đường, Lý Uyên theo lời Lý Thế Dân không rút quân về Thái Nguyên. Khi trời tạnh, Lý Thế Dân dùng kế khích tướng dụ Tống Lão Sinh ra khỏi thành Hoắc Ấp rồi tiêu diệt. Sau đó, Lý Uyên chia quân: một mặt kìm chân Khuất Đột Thông, một mặt thần tốc tiến đánh Trường An. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm, ông đã chiếm được kinh đô, lập Dương Hựu làm Hoàng đế bù nhìn rồi sau đó tự mình đăng cơ, lập ra nhà Đường.
Sau khi lên ngôi, Lý Uyên phái Lý Thế Dân tiêu diệt các thế lực cát cứ. Trong trận chiến với Tiết Nhân Cảo ở Long Tây, Lý Thế Dân dùng kế thủ hiểm đợi địch hết lương mới đánh, cuối cùng toàn thắng. Tiếp đó, Lý Thế Dân đánh bại Tống Kim Cang, thu hồi Thái Nguyên. Lúc này thiên hạ chỉ còn hai đối thủ lớn là Vương Thế Sung ở Lạc Dương và Đậu Kiến Đức ở Hà Bắc.
Năm 620, Lý Thế Dân bao vây Lạc Dương. Vương Thế Sung cố thủ chờ viện binh của Đậu Kiến Đức. Năm 621, khi Đậu Kiến Đức dẫn mười vạn quân đến cứu viện, Lý Thế Dân đã chọn Hổ Lao Quan làm nơi quyết chiến. Ông đích thân dẫn vài chục kỵ binh lộ diện dụ địch vào trận địa mai phục, bắt sống hai đại tướng của Đậu. Sau một tháng đối đầu, Lý Thế Dân dùng kế thả ngựa bên sông nhử địch tấn công, đợi khi quân Đậu mệt mỏi mới tung quân đánh úp, bắt sống Đậu Kiến Đức và thu phục năm vạn quân. Vương Thế Sung thấy viện binh đã mất cũng đành đầu hàng. Trận Hổ Lao Quan là bước ngoặt giúp nhà Đường kiểm soát Trung Nguyên. Sau đó, các cánh quân khác của nhà Đường tiếp tục quét sạch các thế lực còn lại ở Ba Thục và Giang Nam, hoàn thành đại nghiệp thống nhất. Chìa khóa thành công của cha con Lý Uyên chính là nghệ thuật dùng giả tượng để mê hoặc kẻ thù và chọn đúng thời điểm “hư thực” để ra đòn sấm sét.