Logo
Đăng nhập Đăng ký
Menu
  • Trang chủ
  • Truyện
    • Hiện đại
    • Niên đại
    • Cổ đại
    • Quân sự
    • Tổng tài hào môn
    • Đô thị
    • Tình duyên công sở
    • Showbiz minh tinh
    • Thanh xuân vườn trường
    • Hiện thực cuộc sống
    • Cung thất trạch đấu
    • Quyền mưu thiên hạ
    • Tiên hiệp
    • Chủng điền Kinh thương
    • Võ hiệp giang hồ
    • Trọng sinh
    • Xuyên không
    • Hệ thống
    • Huyền huyễn
    • Khoa học viễn tưởng
    • Tâm linh dị thường
    • Trinh thám ly kỳ
    • Hắc bang
    • Cưới trước yêu sau
    • Cưỡng chế yêu
    • Mạt thế
    • Cao thủ dị năng
    • Kỳ môn mật thư
    • Không gian
    • Quan trường
    • Thám hiểm
    • Thượng cổ hồng hoang
    • Xuyên sách
  • Sách
    • Sách thiếu nhi
    • Văn học nghệ thuật
    • Xã hội nhân văn
    • Hạt giống tâm hồn
    • Văn học kinh điển
    • Đạo thành công
    • Quản lý kinh doanh
  • Hướng dẫn nạp xu
Đăng nhập Đăng ký
  • Trang chủ
  • Truyện
    • Hiện đại
    • Niên đại
    • Cổ đại
    • Quân sự
    • Tổng tài hào môn
    • Đô thị
    • Tình duyên công sở
    • Showbiz minh tinh
    • Thanh xuân vườn trường
    • Hiện thực cuộc sống
    • Cung thất trạch đấu
    • Quyền mưu thiên hạ
    • Tiên hiệp
    • Chủng điền Kinh thương
    • Võ hiệp giang hồ
    • Trọng sinh
    • Xuyên không
    • Hệ thống
    • Huyền huyễn
    • Khoa học viễn tưởng
    • Tâm linh dị thường
    • Trinh thám ly kỳ
    • Hắc bang
    • Cưới trước yêu sau
    • Cưỡng chế yêu
    • Mạt thế
    • Cao thủ dị năng
    • Kỳ môn mật thư
    • Không gian
    • Quan trường
    • Thám hiểm
    • Thượng cổ hồng hoang
    • Xuyên sách
  • Sách
    • Sách thiếu nhi
    • Văn học nghệ thuật
    • Xã hội nhân văn
    • Hạt giống tâm hồn
    • Văn học kinh điển
    • Đạo thành công
    • Quản lý kinh doanh
  • Hướng dẫn nạp xu
  1. Home
  2. Binh Pháp Tôn Tử
  3. QUYỂN 3: MƯU CÔNG THIÊN

Binh Pháp Tôn Tử

QUYỂN 3: MƯU CÔNG THIÊN

Danh sách chương

1 QUYỂN 1: THỦY KẾ THIÊN 2 QUYỂN 2: TÁC CHIẾN THIÊN 3 QUYỂN 3: MƯU CÔNG THIÊN Đang đọc 4 QUYỂN 4: QUÂN HÌNH THIÊN 5 Thiên 5: Binh Thế Thiên 6 Thiên thứ sáu: Hư Thực 7 Thiên thứ bảy: Quân Tranh 8 Thiên thứ tám: Cửu Biến 9 Thiên thứ chín: Hành Quân 10 Thiên thứ mười: Địa Hình 11 Thiên 11: Cửu Địa 12 Thiên 12: Hỏa Công 13 Thiên thứ mười ba: Dụng Gián

Tăng cỡ chữ
Giảm cỡ chữ
Chế độ tối/sáng
Cấu hình font

【NGUYÊN TÁC】

Tôn Tử viết:
Phàm dụng binh chi pháp, toàn quốc vi thượng, phá quốc thứ chi; toàn quân vi thượng, phá quân thứ chi; toàn lữ vi thượng, phá lữ thứ chi; toàn tốt vi thượng, phá tốt thứ chi; toàn ngũ vi thượng, phá ngũ thứ chi.
Thị cố bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã; bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã. Cố thượng binh phạt mưu, thứ sát phạt giao, thứ sát phạt binh, kỳ hạ công thành. Công thành chi pháp, vi bất đắc dĩ. Tu lỗ, cụ khí giới, tam nguyệt nhi hậu thành; cự yên, hựu tam nguyệt nhi hậu dĩ. Tướng bất thắng kỳ phẫn nhi nghị phụ chi, sát sĩ tốt tam phân chi nhất, nhi thành bất bạt giả, thử công chi tai dã. Cố thiện dụng binh giả, khuất nhân chi binh nhi phi chiến dã, bạt nhân chi thành nhi phi công dã, hủy nhân chi quốc nhi phi cửu dã, tất dĩ toàn tranh ư thiên hạ, cố binh bất đốn nhi lợi khả toàn, thử mưu công chi pháp dã.
Cố dụng binh chi pháp, thập tắc vi chi, ngũ tắc công chi, bội tắc phân chi, địch tắc năng chiến chi, thiểu tắc năng đào chi, bất nhược tắc năng tị chi. Cố tiểu địch chi kiên, đại địch chi cầm dã.
Phù tướng giả, quốc chi phụ dã. Phụ chu tắc quốc tất cường, phụ khích tắc quốc tất nhược. Cố quân chi sở dĩ hoạn ư quân giả tam: Bất tri quân chi bất khả dĩ tiến nhi vị chi tiến, bất tri quân chi bất khả dĩ thoái nhi vị chi thoái, thị vị di quân; bất tri tam quân chi sự nhi đồng tam quân chi chính, tắc quân sĩ hoặc hỹ; bất tri tam quân chi quyền nhi đồng tam quân chi nhiệm, tắc quân sĩ nghi hỹ. Tam quân ký hoặc thả nghi, tắc chư hầu chi nạn chí hỹ. Thị vị loạn quân dẫn thắng.
Cố tri thắng hữu ngũ: Tri khả dĩ chiến dữ bất khả dĩ chiến giả thắng, thức chúng quả chi dụng giả thắng, thượng hạ đồng dục giả thắng, dĩ ngu đãi bất ngu giả thắng, tướng năng nhi quân bất ngự giả thắng. Thử ngũ giả, tri thắng chi đạo dã. Cố viết: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại.

【BẠCH THOẠI TINH ĐỘC】

Thượng sách của việc cầm quân tác chiến là chiếm lĩnh lãnh thổ địch quốc một cách vẹn toàn, còn chiếm lĩnh sau khi đã gây ra phá hoại cho địch quốc chỉ là hạ sách. Có thể bách chiến bách thắng cũng chưa phải là hoàn mỹ nhất, hoàn mỹ nhất là không đánh mà khiến kẻ địch đầu hàng, tức là dùng mưu lược để đánh bại kẻ địch. Vì vậy, tướng lĩnh giỏi cầm quân đều nên giành chiến thắng bằng mưu lược, thứ đến là thắng bằng thủ đoạn ngoại giao, thứ ba là thắng bằng việc hai quân giao chiến, cuối cùng mới là thắng bằng cách cưỡng ép công thành. Phương pháp cầm quân đánh trận là, nếu binh lực quân ta gấp mười lần địch thì nên bao vây tiêu diệt; nếu gấp năm lần thì nên tấn công; nếu gấp đôi thì nên tìm cách phân tán quân địch. Ngoài ra, trước khi chiến tranh không những phải hiểu rõ bản thân mà còn phải hiểu rõ đối phương, như vậy mới có thể bách chiến bách thắng.

【CHIẾN LỆ KINH ĐIỂN】

Trận Hàm Đan

Nước Triệu yếu nhỏ lại một lần nữa kháng cự nước Tần hùng mạnh, chuyện này là thế nào? Lại nói sau khi quân Tần đánh bại quân Triệu trong trận Trường Bình, vào tháng Giêng năm 259 TCN đã rút quân. Triệu Hiếu Thành Vương chuẩn bị theo điều ước sau khi bại trận, cắt nhượng sáu thành trì của nước Triệu cho nước Tần. Nhưng đại thần nước Triệu là Ưu Khanh cho rằng, quân Tần rút quân là vì binh sĩ mệt mỏi, sức chiến đấu không đủ, nếu bây giờ cắt nhượng thành trì cho Tần thì không những tăng cường thực lực cho Tần mà còn là biểu hiện yếu thế, sau này Tần chắc chắn sẽ lại đánh Triệu, khi đó nước Triệu sẽ có nguy cơ diệt quốc. Tuy nhiên, các đại thần nước Triệu là Triệu Hạc và Lâu Hoãn lại cho rằng nên nhanh chóng cắt nhượng thành trì cho Tần để tránh việc quân Tần lập tức tới đánh. Thái độ của Ưu Khanh vô cùng cứng rắn, phản đối Triệu Hạc và Lâu Hoãn, đồng thời dâng lên Triệu Vương một kế. Đó là đem sáu thành trì đó tặng cho nước Tề, nước Tề vốn dĩ đã có hiềm khích với nước Tần, đến lúc đó chắc chắn sẽ kết minh với nước Triệu để đối kháng quân Tần; nước Triệu tuy mất sáu thành trì đó nhưng có thể được bù đắp bằng cách chiếm lĩnh đất đai của nước Tần, còn nước Tần không chống đỡ nổi sự tấn công của hai nước Tề – Triệu cũng buộc phải cầu hòa với nước Triệu, như vậy hai nước Hàn – Ngụy cũng sẽ tôn trọng và kết minh với nước Triệu. Triệu Vương nghe xong mưu kế của Ưu Khanh thì trong lòng đại hỉ, lập tức tiếp nhận. Thế là, Triệu Vương phái Ưu Khanh đi gặp Tề Vương, dâng thành trì và bàn bạc đại kế đối kháng quân Tần. Sau đó, nước Triệu lại kết minh với nước Ngụy, nước Sở, đồng thời lôi kéo cả nước Hàn và nước Yên. Cùng lúc đó, Triệu Vương nỗ lực điều hòa mâu thuẫn trong nước, khuyến khích nhân dân nước Triệu cùng nhau đối kháng quân Tần, tích cực phát triển nông nghiệp, huấn luyện quân đội. Điều này khiến quốc lực nước Triệu nhanh chóng lớn mạnh.

Tần Chiêu Vương thấy nước Triệu không cắt đất mà còn liên hợp các chư hầu khác cùng đối kháng quân Tần nên vô cùng tức giận, quyết định một lần nữa phát binh tấn công nước Triệu. Vì khi đó đại tướng nước Tần là Bạch Khởi đang mang bệnh trong người nên Tần Chiêu Vương phái Vương Lăng xuất chiến. Tháng Giêng năm 258 TCN, Vương Lăng suất đại quân tấn công thành Hàm Đan nhưng mãi không hạ được. Đúng lúc này, đại tướng Bạch Khởi khỏi bệnh. Tần Chiêu Vương muốn phái Bạch Khởi thay thế Vương Lăng nhưng Bạch Khởi đã từ chối mệnh lệnh. Khi Tần Chiêu Vương hỏi nguyên nhân, Bạch Khởi nói: “Nước Triệu từ sau trận Trường Bình đã chú trọng phát triển nông nghiệp và huấn luyện quân sự, quốc lực mạnh lên rất nhiều, lại còn kết minh với các chư hầu như Tề, Ngụy. Quân Tần tấn công thành Hàm Đan lúc này là vô cùng thiếu sáng suốt.” Sau đó, Tần Chiêu Vương lại phái đại thần Phạm Thư đi khuyên nhủ Bạch Khởi. Phạm Thư nói với Bạch Khởi: “Hiện nay binh lực của Tần gấp mấy lần Triệu, để ông đi làm chủ soái nhất định sẽ đại thắng.” Bạch Khởi nói: “Sau trận Trường Bình, quân Tần không lập tức diệt Triệu đã cho nước Triệu cơ hội hít thở, nay nước Triệu binh cường mã tráng, cả nước một lòng, quân Tần đã mất đi tiên cơ chiến thắng. Huống hồ, nước Triệu còn liên hợp với các chư hầu khác.” Cuối cùng, Bạch Khởi tiếp tục cáo bệnh, từ chối xuất chiến. Tần Chiêu Vương không nghe lời khuyên của Bạch Khởi, vẫn kiên trì đánh Triệu, không lâu sau lệnh cho Vương Hột dẫn đại quân chi viện Vương Lăng. Trận đánh này kéo dài suốt tám tháng, lúc này quân đội của Tần thương vong thảm trọng, xác phơi đầy đồng, sĩ khí sa sút. Tần Chiêu Vương chấn nộ, đích thân đi mời Bạch Khởi xuất chiến. Bạch Khởi vẫn kiên quyết không đồng ý, còn khuyên Tần Chiêu Vương rút quân, nghỉ ngơi dưỡng sức rồi mới quyết định. Tần Chiêu Vương nổi giận tước bỏ chức quan của Bạch Khởi, giáng xuống làm binh sĩ. Sau đó, Tần Chiêu Vương lại ban cho Bạch Khởi một thanh kiếm, Bạch Khởi bị bức phải tự sát. Liệu Tần Chiêu Vương ý chí sắt đá có thể giành chiến thắng hay không? Mời xem phần sau.

Lại nói nước Triệu đối mặt với quân đội Tần hung hãn đã quyết định kiên thủ thành Hàm Đan, đánh chiến tranh tiêu hao với quân Tần, tránh giao phong trực diện, chờ đợi viện quân của các nước đồng minh. Ngoài ra, nhà thống trị nước Triệu còn mượn việc này để khơi dậy lòng nhiệt huyết ái quốc của nhân dân, kiên định quyết tâm đối kháng quân Tần của bách tính. Bình Nguyên Quân Triệu Thắng của nước Triệu còn đem tài sản của mình làm quân phí, để vợ mình vào trong quân doanh may áo cho binh sĩ. Điều này khiến quân dân nước Triệu một lòng, anh dũng kháng cự quân Tần. Cùng lúc đó, Triệu Vương còn thỉnh thoảng phái các đội quân tinh nhuệ đi tập kích quân Tần, mà tướng lĩnh quân Tần thay đổi liên tục vẫn không hạ được thành Hàm Đan. Không lâu sau, nước Ngụy quyết định phái mười vạn quân chi viện nước Triệu. Bình Nguyên Quân còn vội vã sang nước Sở, dùng oán cũ giữa hai nước Tần – Sở để chọc giận Sở Vương. Sau đó, Sở Vương quyết định phái binh lên phía Bắc chi viện nước Triệu kháng Tần. Tần Chiêu Vương nghe tin Ngụy phái binh cứu Triệu liền phái sứ thần nói với Ngụy Vương: “Quân Tần sắp hạ được thành Hàm Đan, nước chư hầu nào bây giờ dám giúp Triệu, sau này quân Tần nhất định sẽ đánh nước đó.” Ngụy Vương trong lòng vô cùng sợ quân Tần trả thù nên đã hạ lệnh cho tướng quân nước Ngụy là Tấn Bỉ đóng quân tại Nghiệp (phía nam huyện Từ, Hà Bắc ngày nay) để quan sát cục diện, sau đó phái sứ giả vào thành Hàm Đan khuyên Triệu Vương đầu hàng. Bình Nguyên Quân nước Triệu thấy quân Ngụy án binh bất động liền phái người nhờ Tín Lăng Quân nước Ngụy thuyết phục Ngụy Vương. Nhưng Tín Lăng Quân nhiều lần khuyên bảo Ngụy Vương đều không có kết quả. Cuối cùng, Tín Lăng Quân bí mật nhờ sủng thiếp của Ngụy Vương là Như Cơ trộm binh phù (vật làm tin để điều động quân đội), rồi tức tốc đến Nghiệp, sau khi giết Tấn Bỉ đã thống lĩnh tám vạn tinh binh xông thẳng về phía thành Hàm Đan.

Tháng 12 năm 257 TCN, Tần Chiêu Vương phái quân trú thủ tại Phần Thành (phía tây bắc Khúc Ốc, Sơn Tây ngày nay) chờ đợi chi viện bộ đội tiền tuyến, lại phái tướng quân Trịnh An Bình suất quân chi viện tiền phương. Mà lúc này, quân đội hai nước Sở, Ngụy đã tới thành Hàm Đan, và nhiều lần đánh lui các đợt tấn công của quân Tần. Quân đội ba nước Sở, Ngụy, Triệu khiến quân đội Tần bị lưỡng đầu thọ địch, tình cảnh vô cùng nguy hiểm. Sau đó, Bình Nguyên Quân đích thân thống lĩnh ba ngàn tử sĩ tấn công quân Tần. Dưới sự tấn công của quân đội ba nước, quân Tần đại bại, tướng quân Vương Hột dẫn tàn quân chạy về Phần Thành, còn quân của Trịnh An Bình bị bao vây tầng tầng lớp lớp, cuối cùng Trịnh An Bình dẫn hai vạn người đầu hàng nước Triệu. Tiếp đó, liên quân hai nước Sở, Ngụy tiếp tục đuổi theo quân Tần đang tháo chạy, một lần nữa đánh bại chúng. Quân Tần không còn cách nào khác, chỉ có thể rút về Hà Tây (vùng phía tây đoạn phía nam sông Hoàng Hà giữa hai tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây ngày nay). Cuộc chiến này quân Tần đã đánh mất nhiều thành trì chiếm được trước đó của các nước Ngụy, Triệu, Hàn. Trận Hàm Đan giữa Tần và Triệu đến đây kết thúc. Trận Hàm Đan, nếu nước Triệu không áp dụng thủ đoạn ngoại giao, liên hợp với các chư hầu khác thì không thể giành được thắng lợi. Điều này minh chứng đầy đủ cho sách lược giành chiến thắng bằng ngoại giao mà 《Tôn Tử Binh Pháp》 đã nói. Ngoài ra, kết quả cuộc chiến cũng chứng minh phán đoán của tướng quân nước Tần là Bạch Khởi là chính xác. Bạch Khởi đã nhìn thấu triệt tình hình hai nước Tần – Triệu cũng như thế cục trước trận chiến, và đưa ra kết luận quân Tần không thể chiến thắng nước Triệu. Kết luận này được đưa ra trên cơ sở “tri kỷ tri bỉ”, đáng tiếc Tần Chiêu Vương không nghe lời khuyên mà còn bức ép Bạch Khởi tự sát.

Hán Sở tranh hùng

Sau khi các cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời nhà Tần lật đổ sự thống trị của quân Tần, hai tập đoàn quân sự mới trỗi dậy là Hạng Vũ và Lưu Bang vì tranh đoạt quyền thống trị thiên hạ đã triển khai một cuộc chiến quy mô lớn. Đây chính là cuộc chiến Hán Sở nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Một bên là Tây Sở Bá Vương anh dũng vô địch, một bên là thống soái quân Hán mưu sâu kế hiểm, không biết thắng phụ cuối cùng của cuộc chiến này ra sao? Mời xem phần sau kể rõ.

Lúc khởi đầu cuộc chiến, Lưu Bang đại bại ở Bành Thành, quân chủ lực bị Hạng Vũ tiêu diệt, tình hình chiến tranh vô cùng bất lợi cho Lưu Bang. Lúc này mưu sĩ của Lưu Bang là Trương Lương hiến kế rằng: “Anh Bố ở Cửu Giang là mãnh tướng dưới trướng Hạng Vũ nhưng lại có mâu thuẫn, mà tướng lĩnh dưới trướng Hạng Vũ là Bành Việt cũng đã làm phản; ngoài ra, Hàn Tín dưới trướng đại vương cũng là một viên mãnh tướng, nếu chiêu hàng được ba vị đại tướng này thì đại sự có thể thành.” Lưu Bang tiếp nhận mưu kế của Trương Lương, trước tiên chiêu hàng Bành Việt, dẫn tàn quân rút về cố thủ tại Thành Cao (vùng trấn Tự Thủy, Hà Nam ngày nay), Huỳnh Dương (vùng phía đông bắc Huỳnh Dương, Hà Nam ngày nay), đồng thời phái binh trấn giữ các vùng hiểm yếu, ráo riết chiêu binh mãi mã, phát triển thế lực. Khi đó, bố trí quân đội của Lưu Bang là: đích thân mình thống lĩnh quân đội chặn đứng các đợt tấn công của Hạng Vũ ở chiến trường chính diện; lệnh Bành Việt ở đất Lương không ngừng quấy nhiễu quân Sở, chi viện chiến trường chính diện; lệnh Hàn Tín suất quân từng bước tiêu diệt các thế lực khác ở phía bắc sông Hoàng Hà, mở rộng địa bàn của quân Hán; tranh thủ chiêu hàng đại tướng Anh Bố, để ông ta tấn công hậu phương quân Sở, kiềm chế Hạng Vũ.

Lại nói tháng 5 năm 205 TCN, sau khi Lưu Bang tập kết quân đội tại Huỳnh Dương, Tiêu Hà đã trưng tập binh sĩ vùng Quan Trung tới bổ sung. Điều này giúp binh lực quân Hán được hồi phục. Mà lúc này Hạng Vũ đã dẫn quân từ Bành Thành tới vùng Huỳnh Dương. Kỵ binh của Hạng Vũ vô cùng lợi hại, đe dọa rất lớn tới Lưu Bang. Do đó, Lưu Bang trọng dụng những người giỏi tác chiến kỵ mã như Lý Tất và Lạc Giáp. Đồng thời, Lưu Bang lệnh tướng quân Quán Anh thống lĩnh bộ đội kỵ binh, đánh bại kỵ binh quân Sở tại vùng phía đông Huỳnh Dương. Điều này khiến quân Sở không thể tiếp tục tiến quân về phía Tây. Lưu Bang tạm thời ổn định được cục diện chiến tranh, lấy hai nơi Thành Cao, Huỳnh Dương làm đại bản doanh, dần dần lớn mạnh thực lực của mình. Sau đó, Lưu Bang vì để gia cố phòng thủ hậu phương nên vào tháng Sáu năm đó đã trở về Quan Trung, đánh bại Chương Hàm ở Quan Trung, chiếm lĩnh đất Ung. Tiếp đó, Lưu Bang lệnh Tiêu Hà trấn giữ Quan Trung, định ra pháp lệnh, phát triển nông nghiệp, chiêu binh mãi mã chi viện bộ đội tiền tuyến. Đầu năm 204 TCN, Hạng Vũ nhiều lần dẫn quân cắt đứt đường tiếp tế của quân Hán. Điều này khiến tình cảnh quân Hán vô cùng nguy hiểm. Lưu Bang triệu tập tướng lĩnh, mưu sĩ dưới trướng thảo luận sách lược đánh bại Hạng Vũ. Lúc này, Trần Bình nói với Lưu Bang: “Hiền tài dưới trướng Hạng Vũ chỉ có vài người như Phạm Tăng, Chu Ân, Chung Ly Muội, Long Thả, mà Hạng Vũ xưa nay lòng nghi ngờ rất nặng, nếu dùng kế ly gián để họ nội đấu, sau đó mới suất quân tấn công quân Sở thì chắc chắn sẽ thắng.” Thế là, Lưu Bang đưa cho Trần Bình bốn vạn cân vàng, để Trần Bình chiêu mộ gián điệp, tung tin đồn rằng nhiều bộ hạ của Hạng Vũ công lao rất lớn nhưng không được phong thưởng, muốn đầu quân cho Lưu Bang cùng tiêu diệt Hạng Vũ. Kết quả, Hạng Vũ quả nhiên trúng kế ly gián, bắt đầu hoài nghi bộ hạ của mình. Mưu sĩ của Hạng Vũ là Phạm Tăng vì bị nghi kỵ đã ôm hận rời khỏi quân Sở, chết bệnh trên đường đi, nội bộ lãnh đạo quân Sở dần xuất hiện chia rẽ.

Lại nói Lưu Bang dùng kế ly gián làm phân rã tập đoàn lãnh đạo quân Sở, củng cố đại hậu phương của mình, nhưng ở chiến trường chính diện Lưu Bang vẫn không chiếm ưu thế. Tháng 4 năm 204 TCN, cường độ tấn công của Hạng Vũ vào Huỳnh Dương tăng mạnh, quân lương của quân Hán lại vô cùng thiếu thốn, tình hình rất nguy cấp. Lưu Bang muốn tạm thời trấn an quân Sở nên đề nghị cắt nhượng Huỳnh Dương cho Hạng Vũ. Quyết định của Lưu Bang bị Hạng Vũ từ chối. Tháng Năm năm đó, trong tình cảnh Lưu Bang không còn đường lui, Trần Bình ra hiến kế, để hai ngàn phụ nữ ban đêm đi ra dụ dỗ quân Sở; thuộc hạ của Lưu Bang là Kỷ Tín thì đóng giả làm Lưu Bang và nói rằng lương thực trong thành đã cạn, Lưu Bang muốn đầu hàng. Cùng lúc đó, Lưu Bang thừa cơ trốn khỏi Huỳnh Dương, đi tới Quan Trung. Sau đó, Lưu Bang sau khi tập kết được một vạn binh lực đã muốn quay lại chiếm lại Huỳnh Dương. Mưu sĩ của Lưu Bang là Viên Sinh cho rằng quyết định này vô cùng thiếu sáng suốt. Viên Sinh bảo Lưu Bang trước hết hãy tìm cách phân tán binh lực của Hạng Vũ, sau đó mới tính cách đoạt lại Huỳnh Dương. Lưu Bang tiếp nhận kiến nghị của Viên Sinh. Sau đó, Lưu Bang suất binh ra khỏi Vũ Quan, Hạng Vũ quả nhiên điều động đại quân Nam hạ. Mà lúc này, quân đội của Bành Việt đang hoạt động ở hai bờ sông Hoàng Hà, thừa cơ cắt đứt đường vận lương của quân Sở. Sau đó, Bành Việt lại dẫn quân tập kích hậu phương quân Sở. Đầu đuôi không thể ứng cứu nhau, điều này khiến Hạng Vũ rơi vào thế vô cùng bị động. Lưu Bang vừa hay thừa cơ đoạt lại các nơi như Thành Cao. Sau đó, Hạng Vũ đánh lui cuộc tấn công của Bành Việt lại dẫn quân đánh Huỳnh Dương, vây khốn Thành Cao. Lưu Bang suất binh rút về cố thủ tại huyện Củng (phía tây nam huyện Củng, Hà Nam ngày nay). Lúc này, quân đội của Hạng Vũ tuy giành thắng lợi nhưng việc tác chiến liên tục đã khiến binh sĩ quân Sở vô cùng mệt mỏi, không thể thừa thắng truy kích quân Hán.

Tháng Tám năm đó, Lưu Bang vượt sông Hoàng Hà về phía Bắc, theo đường nhỏ tới quân doanh của Hàn Tín, sau đó mới điều động quân đội đi chi viện trận chiến ở huyện Củng. Lưu Bang vì để tăng cường cường độ tấn công vào hậu phương quân Sở nên đã phái Lưu Giả và những người khác thống lĩnh hai vạn bộ binh, hàng trăm kỵ binh thâm nhập đất Sở, cùng phối hợp tác chiến với Bành Việt. Bành Việt có sự chi viện của viện quân nên thực lực càng thêm mạnh mẽ, sau đó đã công chiếm mười bảy thành trì của Hạng Vũ, cắt đứt liên lạc giữa Thành Cao và Bành Thành của quân Sở. Mối đe dọa mà hậu phương quân Sở phải gánh chịu ngày càng lớn, khiến Hạng Vũ buộc phải ngừng tấn công huyện Củng, một lần nữa dẫn quân đi đánh Bành Việt. Tháng Chín, Hạng Vũ dẫn quân rời Thành Cao, lệnh thuộc hạ Tào Cữu trấn giữ tại chỗ. Rất nhanh, Hạng Vũ lại một lần nữa đánh bại Bành Việt, thu hồi mười bảy thành trì đó. Nhưng bộ đội chủ lực của Bành Việt không bị tổn thất nghiêm trọng, vẫn tiếp tục đe dọa đại hậu phương quân Sở. Lúc này Lưu Bang muốn bỏ Thành Cao, nhưng mưu sĩ Lịch Tự Cơ cho rằng Thành Cao là nơi vô cùng quan trọng, khuyên Lưu Bang suất quân thu phục nơi này. Thế là, vào tháng 10 năm 203 TCN, Lưu Bang tận dụng cơ hội Hạng Vũ đi đánh Bành Việt để một lần nữa tấn công Thành Cao. Tào Cữu giữ thành ban đầu còn tuân theo dặn dò của Hạng Vũ, kiên thủ thành trì không xuất chiến. Thế nhưng, sau đó ông ta không chịu nổi sự nhục mạ đủ đường của quân Hán, trong cơn thịnh nộ đã mở cửa thành ra nghênh chiến quân Hán. Kết quả, Tào Cữu đại bại, tự sát. Thành Cao một lần nữa rơi vào tay Lưu Bang. Lưu Bang chiếm được Thành Cao bèn thừa thắng khuếch trương thế lực, bao vây quân đội của tướng Sở Chung Ly Muội ở phía đông Huỳnh Dương. Hạng Vũ biết tin Thành Cao thất thủ, hỏa tốc dẫn quân từ Tuy Dương quay về. Nhưng Lưu Bang hạ lệnh quân đội kiên thủ thành trì, không giao chiến với quân Sở. Quân Sở chạy đi chạy lại vất vả, vô cùng mệt mỏi, sĩ khí sa sút. Đại tướng dưới trướng Lưu Bang là Hàn Tín lúc này tiến công quy mô lớn, tình thế chiến tranh nhanh chóng thay đổi.

Hàn Tín suất quân công chiếm Lâm Tư. Quân thủ đất Tề lại cầu cứu Hạng Vũ, Hạng Vũ lại phái binh đi cứu Tề. Vài tháng sau, lương thực quân Sở thiếu hụt nghiêm trọng, Hạng Vũ càng muốn tốc chiến tốc quyết với Lưu Bang. Nhưng Lưu Bang nhất quyết không ra nghênh chiến, còn vạch trần đủ loại tội trạng của Hạng Vũ khiến sĩ khí quân Sở càng thêm sa sút. Cùng lúc đó, quân đội của Bành Việt lại hoạt động ở hậu phương quân Sở, công chiếm hơn hai mươi thành trì. Tháng Tám, sau khi Hàn Tín công chiếm đất Tề đã tiếp tục tấn công vào đất Sở. Lúc này, lương thảo quân Sở đã cạn kiệt, Hạng Vũ đã cảm thấy tình hình vô cùng nghiêm trọng, buộc phải ký kết hòa ước với Lưu Bang. Đang lúc Lưu Bang và Hạng Vũ giao chiến ở các nơi như Huỳnh Dương, Ngụy Báo dẫn quân phản Lưu Bang. Đất Ngụy hướng về phía Tây có thể đe dọa Quan Trung, Nam hạ có thể cắt đứt liên lạc giữa Huỳnh Dương và Quan Trung. Điều này khiến sườn phía sau của Lưu Bang bị đe dọa nghiêm trọng. Lưu Bang nhiều lần phái người đi khuyên hàng Ngụy Báo đều không thành công, đành lệnh cho Hàn Tín, Quán Anh dẫn quân đi đánh. Sau đó, Hàn Tín áp dụng các kế sách như dương đông kích tây tập kích hậu phương quân Ngụy tại An Ấp (phía tây bắc huyện Hạ, Sơn Tây ngày nay). Ngụy Báo kinh hoàng thất sắc, trong lúc hỗn loạn bị bắt sống. Lưu Bang sau khi tiêu diệt Ngụy Báo thì vùng phía bắc sông Hoàng Hà còn ba luồng thế lực Đại, Triệu, Yên. Hàn Tín đề nghị với Lưu Bang: “Tấn công phía Bắc đánh Yên, Triệu; tấn công phía Đông đánh Tề; ở phía Nam cắt đứt đường lương của quân Sở, sau đó đại quân hội hợp tại Huỳnh Dương.” Lưu Bang tiếp nhận kiến nghị của Hàn Tín và phái thêm ba vạn binh lực cho Hàn Tín. Cùng tháng Chín năm đó, Hàn Tín suất quân công chiếm nước Đại rồi lại đi đánh nước Triệu. Triệu Vương tập kết hai mươi vạn binh lực, chiếm lĩnh địa hình có lợi, tu sửa pháo đài, chuẩn bị quyết chiến với quân Hán. Hàn Tín sau khi do thám được bố trí quân đội của quân Triệu đã phái hai ngàn khinh kỵ binh vào nửa đêm, đi theo đường mòn hẻo lánh, rồi phục kích trong núi gần quân doanh Triệu. Sau đó, Hàn Tín lại dẫn mấy vạn người đóng trại tựa lưng vào sông lớn, cố ý làm quân Triệu tưởng mình không biết dụng binh. Sáng sớm hôm sau, Hàn Tín xuất binh giao chiến với quân Triệu, hai bên đánh nhau khó phân thắng bại, tiếng giết vang trời. Hàn Tín giả vờ bại trận, chạy về phía quân doanh. Quân Triệu trong pháo đài tưởng Hàn Tín thật sự bại trận liền đồng loạt xông ra truy kích quân Hán. Mà lúc này, hai ngàn khinh kỵ binh phục kích trên núi thừa cơ tiến vào đại doanh quân Triệu, rồi cắm cờ xí quân Hán quanh đại doanh. Quân Triệu thấy trong quân doanh mình xuất hiện cờ xí quân Hán, tưởng đại bản doanh bị chiếm, chủ soái bị bắt, trong phút chốc quân tâm đại loạn. Hàn Tín thừa cơ dẫn quân phản kích, đại bại quân Triệu, bắt sống Triệu Vương. Hàn Tín sau khi thắng lợi còn chiêu hàng mưu sĩ nước Triệu là Lý Tả Xa, và thỉnh giáo ông ta kế sách đánh nước Yên. Lý Tả Xa cho rằng quân đội của Hàn Tín tác chiến liên tục quá lâu rồi, binh sĩ vô cùng mệt mỏi, nếu lúc này cưỡng ép tấn công nước Yên, ngộ nhỡ không hạ được có thể ảnh hưởng sĩ khí, chi bằng để quân đội nghỉ ngơi một thời gian rồi mới đánh Yên. Hàn Tín quyết đoán tiếp nhận kiến nghị của Lý Tả Xa, và phái người đi chiêu hàng nước Yên. Nước Yên thấy không lực đối kháng với quân Hán nên đã đầu hàng. Không lâu sau, Hàn Tín lại đánh hạ đất Tề. Thế lực quân Hán ở phương Bắc nhanh chóng tăng mạnh.

Lại nói thực lực của Cửu Giang Vương Anh Bố ở phương Nam cũng vô cùng mạnh mẽ. Anh Bố là mãnh tướng vô cùng nổi tiếng trong cuộc chiến diệt Tần. Vì nhiều lần lập đại công nên phong địa của ông ta khá lớn, lại rất gần đất Sở, có thể tấn công quân Hán từ phía Nam. Vì vậy, lựa chọn của Anh Bố có quan hệ trọng đại tới cả hai bên Hán Sở. Lưu Bang biết Anh Bố xưa nay không hòa thuận với Hạng Vũ. Khi Hạng Vũ đánh đất Tề, Bành Thành, Anh Bố không phái binh chi viện, Hạng Vũ nhiều lần phái người trách móc Anh Bố. Anh Bố tuy bề ngoài khiêm cung nhưng trong lòng vô cùng phản cảm Hạng Vũ. Điều này đã cho Lưu Bang cơ hội lôi kéo Anh Bố. Tháng 11 năm 204 TCN, Lưu Bang phái mưu thần Tùy Hà tới Cửu Giang thuyết phục Anh Bố. Anh Bố tuy vô cùng phản cảm Hạng Vũ nhưng lúc này vẫn chưa dám công khai đối đầu. Mà đúng lúc này, Hạng Vũ cũng phái người tới lôi kéo Anh Bố. Tùy Hà ngay trước mặt sứ thần nước Sở đã nói rằng Cửu Giang Vương Anh Bố đã quy hàng Hán Vương Lưu Bang. Anh Bố biết Hạng Vũ tính nghi ngờ rất nặng bèn giết sứ Sở, lập tức xuất binh tấn công quân Sở. Sự phản bội của Anh Bố khiến tình cảnh của Hạng Vũ càng thêm nguy hiểm. Sau đó, hai quân Hán Sở đối trì tại Thành Cao suốt hai năm năm tháng, quân Sở cạn lương, Hạng Vũ biết tình hình nguy cấp nên chủ động cầu hòa với Lưu Bang, yêu cầu chia đôi thiên hạ. Nhưng mưu sĩ của Lưu Bang là Trương Lương, Trần Bình cho rằng đây chính là thời cơ tốt nhất để tiêu diệt Hạng Vũ, không thể bỏ lỡ. Thế là, Lưu Bang quyết định một lần nữa phát động tấn công quân Sở, và lệnh Hàn Tín, Bành Việt cùng Nam hạ tiêu diệt quân Sở. Tháng 10 năm 202 TCN, Lưu Bang suất binh truy kích Hạng Vũ tới Cố Lăng (phía bắc Hoài Dương, Hà Nam ngày nay), nhưng Hàn Tín và Bành Việt lại án binh bất động, không tới chi viện. Hạng Vũ thừa cơ phản công đánh bại Lưu Bang. Lưu Bang chỉ có thể rút về kiên thủ thành trì. Lúc này Lưu Bang vô cùng sợ Hàn Tín và Bành Việt không nghe hiệu lệnh. Mưu sĩ Trương Lương nói với Lưu Bang: “Đại vương đại bại quân Sở, mà Hàn Tín và Bành Việt hai người vẫn chưa được phong địa, cho nên hai người này mới án binh bất động. Nếu có thể cho hai người phong địa, họ sẽ lập tức xuất binh.” Lưu Bang lập tức đem vùng đất từ phía bắc Tuy Dương tới Cốc Thành cho Bành Việt, và phong làm Lương Vương; lại đem vùng đất từ phía đông đất Trần tới Bột Hải cho Hàn Tín (lúc này Hàn Tín đã tự phong là Tề Vương). Sau đó, hai người Hàn Tín và Bành Việt quả nhiên suất binh tới chi viện Lưu Bang.

Hàn Tín suất quân công chiếm Bành Thành. Lưu Bang suất quân xuất phát từ Cố Lăng, ép Hạng Vũ phải dẫn quân rút về Cai Hạ (vùng bờ bắc sông Đà, phía nam Linh Bích, An Huy ngày nay). Sau đó, Hàn Tín, Lưu Giả, Anh Bố cùng Lưu Bang hội quân tại Cai Hạ, chuẩn bị quyết chiến với quân Sở. Lúc này, Hạng Vũ còn khoảng mười vạn binh lực. Hàn Tín dẫn ba mươi vạn đại quân nghênh chiến quân Sở, Lưu Bang thì dẫn quân theo sau. Sau khi đợt tấn công đầu tiên của Hàn Tín thất bại, ông liền lệnh cho quân đội hai cánh tả hữu tiếp tục tấn công, quân Sở bị trọng sang, Hàn Tín thừa cơ dẫn quân xuất kích, đại bại quân Sở. Tháng Mười hai năm đó, quân Sở nhiều lần xuất chiến đều thất bại, Hạng Vũ bị vây khốn tại Cai Hạ, thấy đại thế đã mất bèn nhân lúc đêm tối dẫn tám trăm kỵ binh đột vây tháo chạy về hướng Nam. Lưu Bang phái Quán Anh dẫn năm ngàn kỵ binh truy kích. Hạng Vũ vượt qua sông Hoài, tới Âm Lăng chỉ còn lại hơn một trăm người. Sau đó, truy binh đuổi kịp, Hạng Vũ sau khi anh dũng phấn chiến đã triệt để tuyệt vọng bèn tại Ô Giang vung kiếm tự sát. Đến đây, quân Hán tiêu diệt toàn bộ quân Sở, giành thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến. Hán Sở tranh hùng là cuộc chiến giành quyền thống trị cao nhất giữa Lưu Bang và Hạng Vũ. Hạng Vũ sau khi giành thắng lợi trong cuộc chiến diệt Tần đã phong vương khắp nơi, điều này tạo ra nhiều luồng thế lực cát cứ mới, đi ngược lại nguyện vọng khát khao thống nhất của nhân dân lúc bấy giờ, ngoài ra Hạng Vũ không nghe lời khuyên của mưu thần đã đặt đô tại Bành Thành chứ không phải Quan Trung. Điều này bất luận về chính trị hay quân sự đều là thất sách. Tất cả những yếu tố bất lợi này cộng với tính cách cương bạo tự phụ của Hạng Vũ đã định sẵn ông ta chắc chắn sẽ thất bại. Lưu Bang trong cuộc chiến này có dũng có mưu, nhiều lần tiếp nhận kiến nghị của mưu sĩ và dùng những mưu kế vô cùng khéo léo như ly gián kế. Nhờ đó, Lưu Bang dần dần xoay chuyển thế hạ phong, cuối cùng thống nhất Trung Quốc.

Kháng kích Ngói Lạt

Đây là một chiến dịch triển khai giữa quân đội nhà Minh và quân đội dân tộc thiểu số. Chiến tranh vô cùng thảm liệt, muốn biết kết quả ra sao? Mời xem phần dưới.

Ngói Lạt vốn là một chi của dân tộc Mông Cổ, du mục ở thượng du sông Yenisei. Năm Vĩnh Lạc thứ mười hai triều Minh (năm 1414), sau khi Minh Thành Tổ dẫn quân đại bại Ngói Lạt, thủ lĩnh Ngói Lạt đã xưng thần với nhà Minh, nhận phong hiệu của triều Minh. Đến thời Minh Anh Tông, sức mạnh của Ngói Lạt không ngừng lớn mạnh, thường xuyên Nam hạ quấy nhiễu biên cảnh nhà Minh. Mà lúc này, vương triều Minh bất luận về quân sự hay chính trị thực lực đều khá yếu. Cộng thêm bên trong nhà Minh sưu cao thuế nặng nghiêm trọng, dân không sống nổi, các cuộc khởi nghĩa nông dân dưới nhiều hình thức thường xuyên xảy ra. Tất cả những điều này càng làm tăng thêm khí thế hung hăng của Ngói Lạt. Lại nói Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn khi đăng cơ mới chín tuổi, đại quyền triều chính thực chất nằm trong tay thái giám Vương Chấn. Vương Chấn tham ô phạm pháp, lạm sát người vô tội, khiến triều chính vô cùng hủ bại.

Lại nói về phương diện quân sự, trước thời Minh Anh Tông, các khu vực phòng ngự trọng điểm của quân đội nhà Minh nằm ở phương Bắc, từ sông Áp Lục phía Đông tới Gia Dụ Quan phía Tây. Do đó phòng ngự của nhà Minh ở biên giới phía Bắc vẫn khá kiên cố. Nhưng cùng với việc thực lực quân sự dần suy lạc, triều đình nhà Minh đã mấy lần rút phòng tuyến quân sự về phía Nam, đồng thời áp dụng chính sách nhượng bộ đối với sự quấy nhiễu của Ngói Lạt. Điều này khiến sức mạnh của Ngói Lạt không ngừng lớn mạnh, không ngừng khuếch trương về phía Nam. Đang lúc bộ lạc Ngói Lạt khuếch trương phạm vi thế lực rầm rộ ở phương Bắc thì năm 1438, Tư Tư Nhậm ở Vân Nam khởi binh làm loạn. Triều đình nhà Minh điên cuồng phái binh Nam hạ trấn áp khởi nghĩa. Trận này đánh suốt mười hai năm, khiến thực lực vương triều Minh bị suy giảm nghiêm trọng, khả năng đề kháng Ngói Lạt cũng đại giảm. Mùa thu năm Chính Thống thứ mười ba (năm 1448), nhà thống trị Minh liên tiếp phái sứ thần đi sứ Ngói Lạt. Thủ tướng Ngói Lạt muốn thông hôn với công chúa nhà Minh. Sứ thần nhà Minh tự ý đồng ý yêu cầu của thủ lĩnh Ngói Lạt nhưng sau khi về triều lại không tấu lên Minh Anh Tông. Mùa xuân năm Chính Thống thứ mười bốn, thủ lĩnh Ngói Lạt phái sứ thần dâng ba ngàn thốn mã làm sính lễ, yêu cầu triều đình nhà Minh ban hôn và ban thưởng tài vật. Minh Anh Tông căn bản không biết có chuyện thông hôn này bèn trách mắng thủ lĩnh Ngói Lạt lừa dối, chỉ cho rất ít ban thưởng và từ chối ban hôn. Ngói Lạt vốn đã muốn dẫn quân Nam hạ, nay vừa hay tìm được cái cớ. Thế là, thủ lĩnh Ngói Lạt tập kết quân đội của các bộ lạc dưới trướng chuẩn bị phát binh Nam hạ. Trước thềm đại quân Ngói Lạt tấn công, triều đình nhà Minh đã áp dụng một số biện pháp ứng phó. Ngày 16 tháng 6 năm đó, Minh Anh Tông hạ lệnh điều quân đội ở Hà Nam, Sơn Tây tới Đại Đồng, Tuyên Phủ, và mệnh Tây Ninh Hầu Tống Anh thống lĩnh binh mã Đại Đồng; sau đó lại phái ba vạn đại quân chi viện Đại Đồng, phái một vạn năm ngàn binh mã đi Tuyên Phủ.

Lại nói tháng Bảy cùng năm, các lộ đại quân Ngói Lạt bắt đầu tấn công. Ngày 11 tháng 7, Tham tướng Đại Đồng là Ngô Hạo trong tình trạng chuẩn bị không đầy đủ đã xuất chiến rồi tử trận. Tiếp đó Tống Anh tử trận, quân đội dưới trướng bị tiêu diệt toàn bộ. Quân đội Ngói Lạt tiếp tục Nam hạ, thế như chẻ tre, liên tiếp đánh hạ tám mươi thành trì của nhà Minh. Minh Anh Tông nhận được tin quân đội nhà Minh liên tiếp bại trận thì vô cùng lo lắng, thái giám Vương Chấn bèn xúi giục Minh Anh Tông đích thân dẫn quân nghênh kích Ngói Lạt. Minh Anh Tông hôn quân thế mà lại tiếp nhận ý kiến của Vương Chấn, dẫn năm mươi vạn đại quân xuất chinh vào ngày 15 tháng 7. Sau khi Minh Anh Tông xuất chinh, trên đường gặp mưa lớn liên miên, sĩ khí trong quân sa sút. Vì xuất binh vội vàng nên chưa tới Đại Đồng lương thảo đã cạn sạch. Một số đại thần nhiều lần khuyên Vương Chấn rút quân nhưng đều bị từ chối. Mồng 1 tháng Tám, đại quân nhà Minh cuối cùng cũng tới Đại Đồng nhưng quân đội Ngói Lạt đã rút đi nhằm dụ quân Minh lên phía Bắc. Vương Chấn vẫn muốn tiếp tục tiến quân nhưng không lâu sau ông ta nhận được mật báo của thân tín nói phía trước thảm bại. Vương Chấn vô cùng sợ hãi bèn vội vàng quyết định rút quân. Minh Anh Tông mệnh một bộ phận quân đội trấn thủ Đại Đồng rồi cùng Vương Chấn dẫn quân rút lui. Từ Đại Đồng về kinh thành có hai con đường có thể đi, một là qua Tử Kinh Quan (vùng Tử Kinh Lĩnh, huyện Dịch, Hà Nam ngày nay); hai là Tuyên Hóa. Ban đầu Vương Chấn chọn con đường Tử Kinh Lĩnh với mục đích để quân đội đi ngang qua quê hương mình nhằm khoe khoang quyền thế, nhưng sau đó Vương Chấn lại sợ quân đội phá hỏng ruộng vườn của mình nên lại đổi sang đi Tuyên Hóa. Mà lúc này, sườn phía sau của quân Minh vừa hay phơi bày trước sự tấn công của Ngói Lạt. Thủ lĩnh Ngói Lạt sau khi biết lộ trình rút quân của quân Minh lập tức dẫn quân đánh vào Trường Thành và truy kích Minh Anh Tông. Quân Minh tới Tuyên Phủ thì vừa hay bị đại quân Ngói Lạt đuổi kịp. Minh Anh Tông mệnh Ngô Khắc Trung và Ngô Khắc Cần dẫn quân ngăn chặn. Vì ít không địch nổi nhiều nên hai người tử trận. Sau đó, Minh Anh Tông rút về Thổ Mộc Bảo. Thổ Mộc Bảo nằm ở phía tây Lang Sơn, xung quanh mấy trăm dặm đều là núi cao, địa thế rất cao. Quân Minh tại đây đào giếng, đào rất lâu đều không tìm thấy nước, mà con sông phía Nam đã bị quân đội Ngói Lạt khống chế. Sau đó quân đội Ngói Lạt tấn công quân Minh từ phía Tây Bắc. Tướng lĩnh nhà Minh tổ chức binh sĩ kháng chiến suốt một đêm mà quân đội Ngói Lạt ngày càng nhiều. Lúc này binh sĩ quân Minh vừa đói vừa khát, không thể giành chiến thắng. Ngày thứ hai, quân đội Ngói Lạt giả vờ rút lui và phái người tới nghị hòa. Minh Anh Tông phái người đi đàm phán, thế mà Vương Chấn lại tưởng có thể hòa đàm bèn hạ lệnh đại quân thu dọn doanh trại chuẩn bị hướng về phía Nam lấy nước. Những binh sĩ nhà Minh đã vô cùng đói khát nghe thấy lệnh của Vương Chấn bèn tranh nhau chạy về phía Nam uống nước, trong quân doanh một mảnh hỗn loạn. Đúng lúc này kỵ binh Ngói Lạt xông vào đại khiếu: “Người hạ vũ khí không giết!”. Lúc này quân đội nhà Minh càng thêm hỗn loạn, Minh Anh Tông bị Ngói Lạt bắt sống. Hộ vệ tướng quân Phàn Trung vô cùng căm ghét những việc Vương Chấn làm đã xông lên giết chết Vương Chấn rồi tử trận. Đây chính là “Sự biến Thổ Mộc Bảo” nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Sự biến Thổ Mộc Bảo đã phơi bày đầy đủ sự vô năng và hủ bại của nhà thống trị nhà Minh. Minh Anh Tông trong khi không hiểu thực lực bản thân lại không rõ tình hình quân đội Ngói Lạt đã thảo suất xuất binh, lại đem quyền chỉ huy quân sự giao cho một hoạn quan không hề có tài năng là Vương Chấn, trận này nhà Minh định sẵn phải thất bại. Sau đó, quân đội Ngói Lạt chuẩn bị tấn công thành Bắc Kinh. Vào lúc lâm nguy này, đại tướng nhà Minh là Vu Khiêm đã đứng ra. Liệu Vu Khiêm có thể xoay chuyển tình thế, giữ vững thành Bắc Kinh hay không? Mời xem phần dưới.

Lại nói sau “Sự biến Thổ Mộc Bảo”, bộ đội tinh nhuệ nhà Minh tổn thất vô cùng thảm trọng. Đại Đồng, Tuyên Phủ đã trở thành những tòa thành cô lập. Quân đội Ngói Lạt có thể đánh vào Bắc Kinh bất cứ lúc nào, tình hình vô cùng nguy cấp. Sau khi bắt sống Minh Anh Tông, thủ lĩnh Ngói Lạt không lập tức tấn công Bắc Kinh mà muốn thông qua Minh Anh Tông ép buộc nhà Minh đầu hàng. Sau đó thủ lĩnh Ngói Lạt từng nhiều lần áp giải Minh Anh Tông tới trước hai tòa thành Tuyên Phủ và Đại Đồng để uy hiếp tướng sĩ giữ thành nhưng đều không thành công. Không lâu sau các đại thần nhà Minh lập một vị hoàng đế khác là Minh Cảnh Đế Chu Kỳ Ngọc. Thủ lĩnh Ngói Lạt thấy uy hiếp không thành công mà nhà Minh lại đổi hoàng đế bèn triệu tập đại thần cùng bàn bạc đối sách mới. Lúc này thái giám Hỷ Ninh cũng bị bắt cùng Anh Tông nói: “Có thể mượn danh nghĩa đưa hoàng đế về để các tướng sĩ biên quan mở cửa quan rồi triệu họ ra ngoài mà bắt giữ họ. Sau đó tiến thẳng vào tấn công Bắc Kinh.” Đầu tháng Mười một, thủ lĩnh Ngói Lạt Dã Tiên dẫn quân tới Đại Đồng, tuyên bố muốn thả Minh Anh Tông. Tướng giữ thành là Quách Đăng đóng cửa không tiếp, Dã Tiên biết quân Minh đã sớm có phòng bị không dám đánh mạnh. Sau đó Dã Tiên lại áp giải Anh Tông tới phía bắc Tử Kinh Quan và dẫn quân đánh phá Bạch Dương Khẩu (phía bắc huyện Thiên Trấn, Sơn Tây ngày nay). Tiếp đó Dã Tiên lại dẫn quân tới Tử Kinh Quan nhưng thống lĩnh giữ quan là Tôn Tường đóng quan không đánh. Sau đó thái giám Hỷ Ninh dẫn quân đội Ngói Lạt đi đường mòn vòng qua phía nam quan tạo ra cục diện quân Minh bị lưỡng đầu thọ địch, Tôn Tường tử trận. Quân đội Ngói Lạt tiến về kinh thành. Không lâu sau quân đội Ngói Lạt tới Tây Trực Môn. Vu Khiêm phái Cao Lễ, Mao Phúc Thọ nghênh kích quân đội Ngói Lạt, đánh bại bộ đội tiên phong của Ngói Lạt và cứu về hơn một ngàn binh sĩ nhà Minh bị bắt. Ngay đêm đó Vu Khiêm lại lệnh người tập kích bộ đội Ngói Lạt nhằm mục đích quấy nhiễu. Ngói Lạt thấy khó lòng đánh chiếm Bắc Kinh bèn muốn lấy cớ thả Minh Anh Tông dụ dỗ đại thần nhà Minh tới đàm phán rồi bắt giữ họ. Cảnh Đế Chu Kỳ Ngọc trưng cầu ý kiến của Vu Khiêm. Vu Khiêm dứt khoát từ chối yêu cầu của Ngói Lạt, đập tan âm mưu của Ngói Lạt. Ngày 13, quân đội Ngói Lạt thừa lúc gió mưa dữ dội tấn công Đức Thắng Môn. Vu Khiêm lệnh người mai phục trên mái nhà dân ngoài thành rồi phái ít kỵ binh ra dụ địch. Dã Tiên trúng kế dẫn hàng vạn kỵ binh đuổi theo không rời. Đột nhiên những binh sĩ nhà Minh mai phục sẵn cầm hỏa khí bắn vào quân đội Ngói Lạt. Quân đội Ngói Lạt tử thương thảm trọng, hai người em của Dã Tiên tử trận. Dã Tiên thấy khu vực phòng ngự trọng điểm của nhà Minh là ở Đức Thắng Môn bèn dẫn quân đi đánh Tây Trực Môn. Tướng quân nhà Minh Tôn Đường đánh lui tiên phong Ngói Lạt nhưng Dã Tiên không ngừng tăng binh. Sau đó Cao Lễ, Mao Phúc Thọ, Thạch Hanh và những người khác phái binh chi viện Tây Trực Môn, cùng nhau đánh lui đợt tấn công của Ngói Lạt. Tiếp đó Dã Tiên tổ chức quân đội tấn công Chương Nghĩa Môn nhưng kết quả lại thất bại. Đến đây Ngói Lạt tấn công các cửa thành Bắc Kinh đều kết thúc bằng thất bại. Thủ lĩnh Ngói Lạt sợ đường lui bị cắt đứt đã dẫn quân rút lui vào đêm ngày 15.

Vu Khiêm phát hiện Ngói Lạt rút lui lập tức lệnh Thạch Hanh tập trung hỏa pháo oanh tạc quân doanh Ngói Lạt, làm nổ chết hơn một vạn binh sĩ Ngói Lạt. Sau đó quân đội nhà Minh chia quân truy kích quân đội Ngói Lạt. Thạch Hanh đại bại quân Ngói Lạt tại Thanh Phong Điếm (vùng phía tây huyện Dịch, Hà Bắc ngày nay); Tôn Đường đại bại quân Ngói Lạt tại Cố An (vùng Cố An, Hà Bắc ngày nay); đồng thời tướng lĩnh giữ thành Tuyên Phủ là Dương Hồng dẫn quân tới chi viện, truy kích quân Ngói Lạt tới Bá Châu (vùng huyện Bá, Hà Bắc ngày nay), bắt sống bốn mươi tám tướng lĩnh Ngói Lạt, cứu về hơn một vạn dân cư bị bắt. Quân Ngói Lạt liên tiếp bại lui, thủ lĩnh Ngói Lạt phái người mang ngựa tiến cống tới Bắc Kinh hòa đàm vào ngày 20 tháng Mười. Đến đây quân đội nhà Minh giành thắng lợi trong chiến dịch bảo vệ Bắc Kinh. Nguyên nhân quân Ngói Lạt thất bại chủ yếu có hai điểm: một là làm lỡ thời cơ chiến đấu, ngay sau khi thắng trận Thổ Mộc Bảo quân Ngói Lạt nên thừa thắng xuất kích tiến thẳng thành Bắc Kinh; hai là khinh địch mạo tiến, sau khi triều đình nhà Minh lập mới Minh Cảnh Đế ổn định cục diện quân Ngói Lạt đã thảo suất tiến quân.

Trước
Tiếp theo
Tăng cỡ chữ
Giảm cỡ chữ
Chế độ tối/sáng
Cấu hình font
Logo
TRUYỆN TRUNG QUỐC