Binh Pháp Tôn Tử
Thiên thứ chín: Hành Quân
Danh sách chương
【Nguyên tác】
Tôn Tử viết:
Phàm cách đóng quân và quan sát địch tình: Vượt qua núi phải đi theo thung lũng, chọn nơi bằng phẳng nhìn ra hướng dương mà đóng quân, đánh nhau ở nơi cao thì không nên hướng lên mà đánh, đó là cách đóng quân ở vùng núi. Vượt qua sông phải đóng quân xa sông; nếu địch vượt sông đến đánh, chớ đón đánh ở dưới nước, hãy để chúng qua được một nửa rồi đánh thì mới có lợi; nếu muốn quyết chiến, chớ đóng quân sát mép nước để đón địch, phải chọn nơi bằng phẳng nhìn ra hướng dương, chớ ngược dòng nước, đó là cách đóng quân ở vùng sông nước. Vượt qua vùng đầm lầy, phải mau chóng đi qua, chớ có lưu lại; nếu phải giao chiến ở giữa đầm lầy, tất phải dựa vào nơi có thủy thảo và lưng tựa vào lùm cây, đó là cách đóng quân ở vùng đầm lầy. Ở vùng đồng bằng, nên chọn nơi địa thế bằng phẳng, bên phải và phía sau tựa vào nơi cao, trước thấp sau cao, đó là cách đóng quân ở vùng đồng bằng. Phàm bốn cách đóng quân có lợi này là bí quyết để Hoàng Đế chiến thắng bốn vị đế khác. Phàm quân đội thích nơi cao ghét nơi thấp, trọng hướng dương khinh hướng âm, nuôi dưỡng sinh lực ở nơi thực tại, quân không bệnh tật, ấy gọi là tất thắng. Nơi gò đống đê điều, tất phải đóng ở hướng dương và bên phải dựa vào đó, đây là cái lợi của dùng binh, là sự hỗ trợ của địa lợi. Phía trên có mưa lớn, nước dòng chảy đến, ai muốn vượt sông phải đợi nước lặng mới đi. Phàm những nơi đất có Tuyệt Giản, Thiên Tỉnh, Thiên Lao, Thiên La, Thiên Hãm, Thiên Khích, tất phải mau chóng rời đi, chớ có lại gần. Ta nên xa những nơi đó, để địch lại gần; ta nên hướng về nơi đó, để địch quay lưng vào đó. Bên cạnh quân doanh có nơi hiểm trở, ao rãnh, cỏ lác, rừng nhỏ, cây cối rậm rạp, tất phải cẩn thận lục soát kỹ, đó là nơi quân phục kích và gian tế ẩn náu.
Địch ở gần mà yên tĩnh là cậy vào địa thế hiểm trở; địch ở xa mà khiêu chiến là muốn dẫn dụ ta tiến lên; địch đóng quân ở nơi bằng phẳng là có điều lợi. Cây cối lay động là địch đang đến; trong cỏ có nhiều chướng ngại là muốn làm ta nghi ngờ; chim muông bay vút lên là có phục binh; muông thú kinh hãi là có quân tập kích. Bụi bay cao mà nhọn là xe đến; bụi thấp mà rộng là bộ binh đến; bụi rải rác thành hàng là đang kiếm củi; bụi ít mà đi lại là đang dựng trại. Lời lẽ khiêm tốn mà vẫn tăng cường chuẩn bị là sắp tiến quân; lời lẽ cứng rắn mà hùng hổ tiến tới là sắp rút lui. Xe nhẹ ra trước chiếm giữ hai bên là đang bày trận; chưa có ước hẹn mà đã xin hòa là có âm mưu. Quân lính chạy vội và bày trận là đang chờ thời cơ; nửa tiến nửa lui là dụ địch. Binh sĩ chống vũ khí mà đứng là đang đói; người đi lấy nước uống trước là đang khát. Thấy lợi mà không tiến là quân đang mệt mỏi. Chim chóc tụ tập là đồn trống; ban đêm tiếng kêu la là đang sợ hãi; quân doanh rối loạn là do tướng lĩnh không có uy nghiêm. Cờ xí lay động hỗn loạn là hàng ngũ đã rối; quan lại nóng nảy là đã kiệt sức. Giết ngựa lấy thịt là quân đã hết lương; treo nồi niêu không dùng đến là quân đã khốn cùng. Lời lẽ lặp đi lặp lại, chậm rãi khi nói chuyện là đã mất lòng quân; ban thưởng quá nhiều là lâm vào cảnh túng quẫn; xử phạt quá nhiều là lâm vào cảnh khốn đốn. Lúc đầu hung bạo sau lại sợ hãi quân sĩ là hạng cực kỳ không tinh thông binh pháp; phái sứ giả đến tạ lỗi là muốn được nghỉ ngơi. Quân địch giận dữ xông ra nhưng lâu ngày không giao chiến, cũng không chịu rời đi, tất phải cẩn thận xem xét.
Dùng binh không quý ở chỗ càng nhiều càng tốt, chỉ cần không khinh suất tiến quân, đủ sức tập trung binh lực, phán đoán chính xác quân địch để giành chiến thắng là được. Phàm kẻ không biết lo xa mà khinh địch tất bị kẻ khác bắt làm tù binh. Binh sĩ chưa thân cận mà đã xử phạt thì chúng không phục, không phục thì khó dùng. Binh sĩ đã thân cận mà phép nước không nghiêm, xử phạt không hành thì cũng không thể dùng. Thế nên, phải dùng văn để thu phục lòng người, dùng võ để thống nhất quân kỷ, như vậy gọi là đánh đâu thắng đó. Mệnh lệnh thường xuyên được thi hành để giáo hóa dân chúng thì dân sẽ phục; mệnh lệnh thường không được thi hành để giáo hóa dân chúng thì dân không phục. Mệnh lệnh thường xuyên được thi hành là do tướng lĩnh và quân chúng tâm đầu ý hợp vậy.
【Bạch thoại tinh đọc】
Hành quân đánh trận phải mật thiết chú ý địch tình. Khi băng qua vùng núi, phải tiến theo khe suối thung lũng, phải đóng quân ở nơi địa thế cao, tầm nhìn rộng rãi, không được khinh suất tấn công kẻ địch đã chiếm giữ cao điểm. Gặp sông ngòi, phải đóng quân ở nơi cách xa bờ sông; nếu địch đến đánh, phải đợi chúng qua sông được một nửa mới phát động tấn công. Không được lưu lại vùng đầm lầy, vạn nhất gặp địch ở địa hình này phải tranh chiếm vị trí có lợi lưng tựa rừng cây. Ở vùng bình nguyên phải chọn nơi bằng phẳng hạ trại, bên sườn phải có cao địa để dựa vào hiểm yếu của núi, tạo thành thế trận có lợi. Người giỏi đánh trận luôn đóng quân ở nơi cao ráo, khô ráo và hướng về phía mặt trời, đồng thời nơi đó phải có thủy thảo phong phú, lương thực đầy đủ, như vậy mới đảm bảo binh sĩ không bị sinh bệnh. Kẻ địch ở gần quân ta mà vẫn thái nhiên tự nhược, chứng tỏ chúng đã chiếm được địa lợi; địch ở xa mà liên tục phái người đến quấy nhiễu là muốn dụ ta xuất chiến, phải thời khắc chú ý quan sát địch tình. Ngoài ra, còn phải dùng tình và lý để binh sĩ tin phục, không được tùy tiện xử phạt binh sĩ.
【Classic Chiến lệ】
Thích Kế Quang kháng Oa
Đây là câu chuyện kể về tướng quân Thích Kế Quang nhà Minh chống lại quân xâm lược Nhật Bản. Rốt cuộc Thích Kế Quang đã trở thành anh hùng kháng Oa như thế nào, và đã vận dụng phương pháp gì để khiến quân xâm lược nghe danh đã mất vía? Mời nghe chi tiết dưới đây.
Vào cuối thời nhà Minh, một lượng lớn lãng nhân Nhật Bản thường xuyên xuất hiện ở vùng ven biển đông nam Trung Quốc, đốt phá, giết chóc, cướp bóc, đe dọa nghiêm trọng đến đời sống của bách tính địa phương. Nhân dân vô cùng căm ghét những võ sĩ này và gọi họ là Oa khấu. Tháng 5 năm 1555, dưới sự thống lĩnh của Tổng đốc Trương Kinh, quân dân nhà Minh đã giành được thắng lợi đầu tiên trong cuộc chiến kháng Oa. Tuy nhiên, lúc này Hoàng đế Gia Tĩnh nhà Minh lại nghe lời sàm tấu của gian thần Nghiêm Tung, Triệu Văn Hoa mà giết chết Trương Kinh. Từ đó về sau, sĩ khí quân Minh suy sụp, lòng người ly tán. Trong khi đó, gian thần Triệu Văn Hoa liên tục nhận hối lộ của các văn võ đại thần, hiện tượng mua quan bán tước vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng quân đội nhà Minh. Sau cái chết của Trương Kinh, đại thần Dương Nghi tiếp quản vị trí Tổng đốc. Dương Nghi phục tùng Triệu Văn Hoa mọi bề, khiến Triệu Văn Hoa càng thêm phóng túng. Triệu Văn Hoa sàm tấu với Hoàng đế Gia Tĩnh khiến ông xa lánh Dương Nghi, dẫn đến quân đội kháng Oa của nhà Minh không thể huấn luyện bình thường. Cùng lúc đó, một số sơn tặc là người dân tộc thiểu số vì thiếu sự quản chế của quân đội cũng trở nên lộng hành, thừa cơ đốt phá cướp bóc, khiến bách tính vùng đông nam vốn đã chịu khổ vì Oa khấu nay càng thêm thống khổ.
Vì hành vi của Oa khấu ngày càng ngang ngược, sơn tặc địa phương lại mất kiểm soát, Dương Nghi đã chiêu mộ dũng sĩ vùng Giang Chiết cùng một nhóm cung thủ thiện xạ từ Sơn Đông điều đến vùng ven biển đông nam. Nhưng sau khi tổ chức xong binh sĩ, Dương Nghi vốn không có tài quân sự lại không biết cách thống lĩnh họ, dẫn đến quân kỷ rệu rã, danh nghĩa thì có mà thực chất thì không. Tuy nhiên, trong nhóm người này lại có một danh tướng kháng Oa lưu danh thiên cổ, đó chính là Thích Kế Quang. Thích Kế Quang tổ quán ở Đông Mâu, Sơn Đông (nay là huyện Lai Vu). Ông là người hào sảng, có chí hướng xa rộng, lại ham đọc sách, dưới sự dạy bảo của cha, ông đã trở thành một người văn võ song toàn. Sau khi được điều đến Chiết Giang thực hiện nhiệm vụ kháng Oa, qua mấy năm tác chiến, ông phát hiện binh sĩ địa phương hầu hết là người già yếu bệnh tật, còn binh sĩ điều từ nơi khác đến lại không tuân thủ quân kỷ, thiếu huấn luyện, quân đội như vậy căn bản không thể chiến thắng Oa khấu. Thế là Thích Kế Quang quyết định xây dựng lại một đội quân mới. Đúng lúc đó, một cuộc hỗn chiến dân gian xảy ra ở Nghĩa Ô, Chiết Giang đã khiến ông nảy sinh hứng thú.
Số là phía nam thành Nghĩa Ô có ngọn núi tên là Bát Bảo Sơn, tài nguyên khoáng sản vô cùng phong phú. Bách tính nơi khác vì sinh kế mà đến núi khai thác mỏ, nhưng địa chủ Trần Đại Thành, Tống Niệm Lục cậy thế đông người không cho phép người ngoài đến khai thác. Tiếp đó, hai bên xảy ra xung đột và đánh nhau. Cuộc tranh đấu này đã khiến vài ngàn người thiệt mạng. Thích Kế Quang vừa đau lòng, vừa nhìn thấy phong tục hung hãn của người địa phương và sự dũng cảm của các thợ mỏ từ nơi khác đến. Nhóm người này nếu có thể gia nhập đội ngũ kháng Oa thì lực lượng kháng Oa chắc chắn sẽ mạnh hơn nhiều. Thế là Thích Kế Quang muốn tổ chức nhóm người này thành một đội quân mới. Ông liên tục gửi thỉnh cầu lên cấp trên xin chiêu mộ tân binh. Cuối cùng vào năm 1559, Tổng đốc Hồ Tông Hiến đã phê chuẩn yêu cầu của Thích Kế Quang. Thích Kế Quang lập tức đến vùng Nghĩa Ô và Kim Hoa chiêu mộ một lượng lớn tân binh. Sau khi đến hai nơi này, ông đã nói chuyện với thủ lĩnh của cả hai bên từng tranh đấu, dùng đại nghĩa dân tộc để cảm hóa họ. Tiếp đó, dưới sự ủng hộ của thủ lĩnh hai bên, nhiều nông dân và thợ mỏ có nhiệt huyết yêu nước đã đến đầu quân. Thích Kế Quang chọn ra ba ngàn binh sĩ ưu tú, thành lập một đội quân mới. Thích Kế Quang yêu cầu ba ngàn người này phải nghiêm túc chấp hành quân kỷ, không được quấy nhiễu bách tính; phải luyện giỏi võ nghệ để tiêu diệt Oa khấu. Vùng Giang Nam có nhiều đầm lầy sông nước, đường xá ngoằn ngoèo, Thích Kế Quang dựa vào đặc điểm này đã sáng tạo ra một trận pháp mới gọi là “Trận Uyên Ương”. Trận pháp này lấy mười hai người làm một tiểu đội, các thành viên cầm đủ loại binh khí khác nhau, người đứng đầu là đội trưởng chịu trách nhiệm chỉ huy; hai người phía sau cầm khiên che chắn cho đội hình. Qua hơn ba tháng huấn luyện, đội quân mới chiêu mộ này đã trở thành một đội quân tinh nhuệ có sức chiến đấu cực mạnh. Mỗi khi ra tiền tuyến tác chiến đều đánh bại được Oa khấu, nhiều lần lập kỳ công. Bách tính địa phương thân mật gọi đội quân này là “Thích Gia Quân”.
Tháng 4 năm 1561, Oa khấu tấn công quy mô lớn vào vùng Đào Chử, Kỳ Châu thuộc Đông Chiết. Thích Kế Quang dẫn quân đến vùng Ninh Hải, trấn thủ Đào Chử. Lần này, Thích Kế Quang đại chiến với thủ lĩnh Oa khấu, hai người sau mấy hiệp đấu kịch liệt, Thích Kế Quang nhảy vọt lên, một đao chém rơi đầu đối phương và tiêu diệt toàn bộ số Oa khấu còn lại. Ngay sau khi chiến tranh ở Đào Chử kết thúc, toán Oa khấu xâm phạm Kỳ Châu lại kéo đến đánh úp Đài Châu. Nhận được tin, Thích Kế Quang lập tức dẫn quân mai phục trên đường đến Đài Châu, tiêu diệt sạch quân Oa. Trong vòng một năm, bộ đội của Thích Kế Quang xuất chiến chín lần, chín lần đều giành thắng lợi, tiêu diệt tổng cộng hơn năm ngàn tên Oa khấu và cứu được hơn sáu ngàn bách tính bị chúng bắt giữ. Đến đây, cuộc chiến kháng Oa ở Đông Chiết tuyên bố kết thúc. Năm 1562, Oa khấu tấn công quy mô lớn vào Phúc Kiến. Nhóm Oa khấu này chia làm hai đường, một đường từ Ôn Châu đến Phúc Ninh hội quân rồi chiếm đóng các vùng Thọ Ninh, Ninh Đức; đường kia từ Nam Áo, Quảng Đông đến Phúc Thanh hội quân, chiếm đóng Đại Điền và nhiều nơi khác. Khi đó, Ninh Đức đã nhiều lần bị Oa khấu đánh chiếm. Trên biển cách thành Ninh Đức năm cây số có một hòn đảo nhỏ tên là Hoành Dự, khi thủy triều dâng thì bốn bề là nước, khi triều rút thì bốn bề là bãi bùn lầy, có hơn hai ngàn tên Oa khấu chiếm cứ hòn đảo này. Vì địa hình như vậy khiến thủy quân và lục quân đều khó triển khai tác chiến, quân Minh đối đầu với Oa khấu suốt ba năm mà không dám manh động. Trong khi đó, nhóm Oa khấu mới đến lại hạ trại ở vùng Ngưu Điền thuộc Phúc Thanh, còn thủ lĩnh Oa khấu thì hạ trại ở vùng đông nam Hưng Hóa để phối hợp tác chiến, khiến Phúc Kiến trong phút chốc trở thành trung tâm tấn công của Oa khấu. Quan lại địa phương liên tục phái người cầu cứu Tổng đốc Hồ Tông Hiến. Thế là Hồ Tông Hiến lệnh Thích Kế Quang dẫn quân đến Phúc Kiến chi viện.
Tháng 7 năm đó, Thích Kế Quang dẫn quân đến Phúc Kiến. Căn cứ vào tình hình cụ thể, ông quyết định đánh đảo Hoành Dự trước. Ông lệnh cho mỗi binh sĩ tham chiến đều mang theo một bó cỏ khô, đợi lúc triều rút thì trải cỏ khô lên bãi bùn lầy. Thế là quân Minh dẫm lên lớp cỏ dày để đổ bộ lên đảo Hoành Dự. Sau sáu giờ huyết chiến, Thích Kế Quang thuận lợi tiêu diệt đám Oa khấu trên đảo, chém đầu hơn hai ngàn sáu trăm tên và cứu được hơn tám trăm bách tính bị bắt, trận đầu kháng Oa ở Phúc Kiến đã vang dội như thế. Tiếp đó, Thích Kế Quang dẫn quân tiến về vùng Phúc Thanh, nhanh chóng phát động tấn công vào Oa khấu ở Ngưu Điền, tiêu diệt phần lớn quân địch. Số Oa khấu còn lại tháo chạy, Thích Kế Quang lại dẫn quân truy kích suốt đêm đến tận doanh trại của chúng, giết thêm hơn một ngàn tên. Sau khi trời sáng, Thích Kế Quang chỉnh đốn bộ đội dẫn quân vào thành, bách tính địa phương bấy giờ mới biết Oa khấu đã bị tiêu diệt. Nhân dân nô nức giết gà mổ bò khao Thích Gia Quân. Thích Kế Quang dẫn quân đến Phúc Kiến chưa đầy hai tháng đã cơ bản tiêu diệt sạch Oa khấu địa phương. Từ đó về sau, Oa khấu nghe thấy tên Thích Kế Quang là vô cùng khiếp sợ. Nhân dân vùng Phúc Kiến lại được sống những ngày yên ổn. Sau đó Thích Kế Quang dẫn quân trở về Chiết Giang, nhờ lập công lớn ở Phúc Kiến nên được triều đình nhà Minh thăng chức làm Phó tổng binh. Không may là sau khi ông đi, hoạt động của Oa khấu ở Phúc Kiến lại trở nên điên cuồng. Lượng lớn Oa khấu đốt phá cướp bóc vùng ven biển Phúc Kiến, bách tính không được yên ổn. Đầu tiên chúng tấn công Thiệu Vũ và giết chết chỉ huy địa phương Tề Thiên Tường, sau đó tấn công La Nguyên, Liên Giang, dọc đường đốt phá chiếm đóng nhiều thị trấn ven biển Phúc Kiến. Cuối cùng, Oa khấu vây hãm thành Hưng Hóa. Thành Hưng Hóa nằm giữa Phúc Châu và Tuyền Châu, là một trọng trấn ven biển. Oa khấu vây hãm một tháng trời vẫn không hạ được. Tuần phủ Phúc Kiến nhiều lần thỉnh cầu Hoàng đế Gia Tĩnh phái Thích Kế Quang đến Phúc Kiến kháng Oa. Thế là Thích Kế Quang lại được điều động đến Phúc Kiến một lần nữa.
Tháng 11 năm 1562, Đô đốc Lưu Hiển dẫn quân đến Hưng Hóa. Nhưng quân của Lưu Hiển vừa từ Giang Tây chuyển tới, đường xa mệt mỏi, lại chỉ có hơn bảy trăm người. Lưu Hiển biết nhất thời khó lòng đánh bại Oa khấu nên hạ trại cách thành Hưng Hóa mười lăm dặm để tĩnh quan kỳ biến. Ông phái tám binh sĩ vào thành đưa tin, nhưng không may là cả tám người đều bị Oa khấu giết chết. Oa khấu còn mặc quần áo của tám binh sĩ này, mạo xưng là người của Lưu Hiển phái đến đưa tin, từ đó lừa được tướng thủ thành Hưng Hóa, hẹn giờ đón quân Lưu Hiển vào thành. Thế là khi lượng lớn Oa khấu kéo đến chân thành, binh sĩ giữ thành tưởng là bộ đội của Lưu Hiển nên mở cửa đón vào. Kết quả, lượng lớn Oa khấu vào thành đột ngột phát động tấn công, dễ dàng đánh bại quân Minh rồi thảm sát bách tính trong thành. Đến đây thành Hưng Hóa thất thủ. Đây là lần đầu tiên Oa khấu chiếm được một thành phố lớn như vậy kể từ khi tấn công ven biển Phúc Kiến, chúng tác oai tác quái ở đây suốt hai tháng khiến thành Hưng Hóa trở thành một tòa thành trống. Tháng 2 năm 1563, nhóm Oa khấu này muốn rút chạy nên tập kết tại thành Kỳ Đầu. Lúc này gần thành Kỳ Đầu là nơi trú quân của chỉ huy nhà Minh Âu Dương Thâm. Tuy nhiên Âu Dương Thâm rất khinh địch, việc trinh sát Oa khấu rất lỏng lẻo, kết quả khi dẫn quân xuất chiến đã rơi vào mai phục của địch, toàn quân bị tiêu diệt. Sau đó Thích Kế Quang dẫn một vạn tướng sĩ đến Bình Hải Vệ, Tổng binh Du Đại Du đã dẫn quân đến trước. Trước đó Du Đại Du đã hợp binh với Lưu Hiển vây khốn Oa khấu trong thành Bình Hải Vệ. Khi Thích Kế Quang đến, quân Minh chuẩn bị tổng tấn công. Dưới sự dẫn đường của một lão binh địa phương, Thích Kế Quang dẫn quân theo đường nhỏ thọc thẳng vào thành, Oa khấu không kịp trở tay, bị đánh tan tác. Sau đó Lưu Hiển dẫn quân diệt sạch Oa khấu ở thành Kỳ Đầu. Trận chiến đến đây cơ bản kết thúc. Tháng 2 năm sau, tàn dư Oa khấu lại tập kết hơn một vạn người vây hãm vùng Tiên Du của Phúc Kiến. Một tháng sau, Thích Kế Quang lại dẫn quân đến đại bại Oa khấu. Số tàn dư cướp thuyền của ngư dân địa phương trốn về nước. Đến đây Oa khấu ở Phúc Kiến cơ bản bị tiêu diệt hoàn toàn. Sau đó Thích Kế Quang lại được điều đến Quảng Đông kháng Oa, trở thành một vị anh hùng dân tộc lưu danh muôn đời. Chiến thắng của Thích Kế Quang ngoài việc trị quân nghiêm minh, còn phải kể đến chiến thuật xuất sắc của ông, ví dụ như lúc mới lập quân, ông dựa vào môi trường địa lý vùng ven biển để phát minh ra trận pháp Uyên Ương tinh diệu, hay như trận đánh đảo Hoành Dự, ông chú ý quan sát địa hình, để binh sĩ vác cỏ khô vượt bùn lầy giành thắng lợi.
Cuộc huyết chiến giữa Đông Ngụy và Tây Ngụy
Đông Ngụy và Tây Ngụy hình thành như thế nào? Số là vào thời Đông Tấn, sau khi Lưu Dụ bắc phạt tiêu diệt chính quyền Nam Yến và Hậu Tần, vào tháng 6 năm 420 đã phế bỏ Tấn Cung Đế, tự mình lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu là Tống, sử gọi là “Lưu Tống”. Chính quyền Lưu Tống lúc bấy giờ thống trị phần lớn khu vực phía nam Hoàng Hà của Trung Quốc. Trong khi đó, chính quyền Bắc Ngụy do họ Thác Bạt của tộc Tiên Ti thiết lập thì thống trị phương bắc. Từ đó hình thành nên hai thế lực đối địch. Sau này Lưu Tống trải qua các triều đại thay thế như Tề, Lương, Trần, cùng lúc đó Bắc Ngụy xảy ra phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, sau lại lần lượt đổi tên thành Bắc Tề và Bắc Chu. Tiếp đó tại hai địa danh Sa Uyển và Vị Khúc, Đông Ngụy và Tây Ngụy đã nổ ra cuộc chiến tranh kịch liệt. Rốt cuộc trận chiến này ai thắng ai thua? Mời xem dưới đây.
Số là Tây Ngụy định đô ở Trường An (nay thuộc vùng Tây An, Thiểm Tây), đại quyền quân chính do Thừa tướng Vũ Văn Thái nắm giữ. Đông Ngụy định đô ở Nghiệp Thành (nay thuộc vùng Chương Nam, Hà Bắc), đại quyền quân chính do Thừa tướng Cao Hoan nắm giữ. Hai chính quyền này vì muốn thôn tính lẫn nhau đã nổ ra rất nhiều cuộc chiến. Trận chiến nổ ra tại Sa Uyển và Vị Khúc năm 537 chỉ là một trong số đó. Trong trận này, Đông Ngụy tung ra hai mươi vạn đại quân tấn công mãnh liệt Tây Ngụy, Tây Ngụy chỉ dùng hơn bảy ngàn kỵ binh tinh nhuệ nghênh chiến. Vì thống lĩnh quân Tây Ngụy là Vũ Văn Thái có tài hành quân đánh trận cao hơn thống lĩnh quân Đông Ngụy là Cao Hoan, nên Tây Ngụy đã tạo ra kỳ tích lấy ít thắng nhiều, đánh bại đại quân Đông Ngụy đông đảo. Còn về việc tại sao mâu thuẫn giữa hai nước lại lớn như vậy, thù hận sâu sắc như thế, thì phải kể từ lúc hai bên phân liệt. Số là sau khi Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, Đông Ngụy có diện tích lãnh thổ rộng lớn, nhân khẩu đông đúc, thực lực quân sự mạnh hơn, dựa vào những điều kiện đó, Đông Ngụy xuất quân muốn chiếm lấy Đồng Quan – cửa ngõ quan trọng tiến vào đô thành Trường An của Tây Ngụy. Nhưng sau đó quân Tây Ngụy đã đánh bại thành công quân Đông Ngụy, giữ vững Đồng Quan. Sau đó Đông Ngụy lại phát động cuộc tấn công Đồng Quan lần thứ hai nhưng vẫn không thành công. Người thống trị thực sự của Tây Ngụy là Vũ Văn Thái vô cùng bất mãn trước hành vi nhiều lần xâm chiếm lãnh thổ Tây Ngụy của Cao Hoan. Thế là năm 537, Vũ Văn Thái đích thân dẫn quân tiến về phía đông, không lâu sau đã đánh chiếm thành công trọng điểm quân sự Hằng Nông của Đông Ngụy (nay thuộc vùng phía tây thành phố Tam Hiệp, Hà Nam). Sau đó Cao Hoan của Đông Ngụy lệnh Đại tướng quân Cao Ngao Tào dẫn ba vạn mã quân từ Lạc Dương xuất phát tấn công Hằng Nông từ phía tây; đồng thời tự mình dẫn hai mươi vạn quân chủ lực từ Thái Nguyên, Lâm Phần tiến xuống phía nam, rồi vượt Hoàng Hà ở Bồ Bản (nay thuộc vùng phía tây Vĩnh Tế, Sơn Tây) để tấn công Quan Trung. Đến đây, màn trướng của trận Sa Uyển, Vị Khúc chính thức mở ra.
Từ lộ trình hành quân của Cao Hoan có thể thấy ông ta muốn chia quân làm hai đường tiến về Trường An. Một đường do Cao Ngao Tào dẫn đầu để đoạt lại Hằng Nông, rồi từ Hằng Nông tiến về khu vực Đồng Quan; đường kia do tự mình dẫn đầu, trước tiên chiếm lấy trọng điểm quân sự Hoa Châu (nay là vùng Đại Lệ, Thiểm Tây), sau đó dẫn quân hội quân với Cao Ngao Tào. Lại nói thống lĩnh Tây Ngụy là Vũ Văn Thái sau khi nhận được tin Cao Hoan dẫn quân tiến về phía tây đã quyết định dốc toàn lực ngăn chặn quân Đông Ngụy. Thế là một mặt Vũ Văn Thái để đại tướng Đại Hùng kiên thủ Hoa Châu nhằm ngăn cản quân Ngụy tiến về phía tây; mặt khác lại phái người đi khắp nơi chiêu tập binh mã, đồng thời rút khoảng một vạn quân từ Hằng Nông về chi viện Quan Trung. Sau đó theo kế hoạch, tướng Đông Ngụy Cao Ngao Tào đã thuận lợi bao vây Hằng Nông. Nhưng đại quân do Cao Hoan dẫn đầu sau khi vượt Hoàng Hà, vì thành Hoa Châu vô cùng kiên cố nên mãi không hạ được. Cuối cùng Cao Hoan không còn cách nào khác đành lệnh quân đóng trại tại vùng Hứa Nguyên cách Hoa Châu hơn ba mươi dặm về phía bắc. Đúng lúc đó, Vũ Văn Thái trở về Vị Nam và muốn xuất binh tấn công quân Cao Hoan. Nhưng các thuộc hạ của Vũ Văn Thái đều cho rằng lúc này binh mã chiêu tập từ các nơi vẫn chưa tới, hơn nữa chênh lệch binh lực hai bên quá lớn, nếu mạo hiểm xuất kích e rằng khó thắng, tốt nhất nên nhẫn nhịn tạm thời không xuất chiến. Nhưng Vũ Văn Thái kiên quyết muốn đánh, cho rằng quân Đông Ngụy từ nơi xa xôi kéo đến, trận đầu không hạ được thành Hoa Châu, nay lui về đóng trại ở Hứa Nguyên án binh bất động, điều này chứng tỏ quân Đông Ngụy tuy đông nhưng sức chiến đấu không mạnh, càng không có sĩ khí quyết chiến đến cùng, vì vậy quân Tây Ngụy có thể thừa lúc chúng chưa ổn định chỗ ở, địa hình lại chưa thông thuộc mà đột ngột phát động tấn công. Nếu để chúng ổn định lại, đứng vững chân rồi tiếp tục tiến về Trường An thì lúc đó quân Tây Ngụy sẽ dao động, tình thế càng bất lợi hơn. Sau lời giải thích của Vũ Văn Thái, các tướng lĩnh Tây Ngụy đã xóa bỏ lo ngại, tích cực chuẩn bị vượt sông Vị sang phía bắc giao chiến với quân Đông Ngụy. Tháng 9 cùng năm, quân Tây Ngụy bắc cầu trên sông Vị. Cùng lúc đó, Vũ Văn Thái dẫn bảy ngàn kỵ binh tinh nhuệ, chỉ mang theo ba ngày lương thảo vượt sông Vị lên phía bắc. Đầu tháng 10, Vũ Văn Thái dẫn quân đến đóng trại tại Sa Uyển (vùng nam Đại Lệ, Thiểm Tây) cách quân doanh Đông Ngụy sáu mươi dặm. Sau khi ổn định quân đội, Vũ Văn Thái lập tức phái binh sĩ giả làm bách tính địa phương lẻn vào gần quân doanh Đông Ngụy để thám thính tình hình cụ thể. Sau khi thám tử về báo cáo, tình hình quả đúng như dự đoán, điều này càng củng cố lòng tin đánh bại quân Đông Ngụy của Vũ Văn Thái. Nếu xét về quân số, Vũ Văn Thái cũng biết địch mạnh hơn mình gấp nhiều lần, nhưng quân Đông Ngụy sức chiến đấu không mạnh lại khinh địch, chính là điều kiện giúp Vũ Văn Thái chiến thắng. Lúc này thuộc hạ của Vũ Văn Thái là Lý Bật kiến nghị ông lợi dụng mười dặm Vị Khúc (đoạn sông Vị uốn khúc) với địa hình có lợi như bãi cát gồ ghề, đầm lầy đan xen, lau sậy rậm rạp để đặt mai phục, dụ quân Đông Ngụy vào vòng vây rồi tiêu diệt sạch. Kiến nghị này của Lý Bật rất hợp với kế mưu của Vũ Văn Thái. Thế là ông lập tức áp dụng, đích thân đến Vị Khúc thị sát, quyết định dựa vào địa lợi để giành chiến thắng. Liệu Cao Hoan có trúng kế không?
Lại nói Cao Hoan sau khi biết Vũ Văn Thái đã dẫn quân Tây Ngụy đến Sa Uyển liền lập tức hạ lệnh tìm quân Tây Ngụy để quyết chiến. Cao Hoan dẫn đại quân từ xa tới, đã đóng ở Hứa Nguyên rất lâu nên lúc này vô cùng nôn nóng. Vì nôn nóng cầu thắng mà chưa đưa ra phán đoán chính xác và bố trí kỹ lưỡng, Cao Hoan đã vội vã dẫn đại quân từ Hứa Nguyên chạy đến Sa Uyển. Quân Tây Ngụy sớm biết quân Đông Ngụy đã hành động nên theo kế hoạch cũ bày binh bố trận thiên la địa võng tại Vị Khúc, quy định lấy tiếng trống làm tín hiệu tấn công, dùng phương thức tập kích bất ngờ tiêu diệt quân Đông Ngụy trong vòng mai phục. Cao Hoan đâu biết mình đang từng bước đi tới thất bại, không lâu sau ông dẫn đại quân đến gần Vị Khúc. Lúc này tướng dưới quyền Cao Hoan là Giải Luật Khương Cử thấy nơi đây đầm lầy khắp nơi, bãi cát gồ ghề, lau sậy mọc um tùm, cho rằng địa hình này vô cùng bất lợi để đại quân Đông Ngụy triển khai chiến tranh. Thế là ông kiến nghị Cao Hoan để một bộ phận binh lực đóng ở Sa Uyển tĩnh quan kỳ biến, rồi phái một đội kỵ binh tinh nhuệ đánh úp Trường An. Nhưng lúc này Cao Hoan một mực muốn quyết chiến với Vũ Văn Thái nên căn bản không nghe bất kỳ lời khuyên nào. Khi đó Cao Hoan định phóng hỏa đốt lau sậy, nhưng thuộc hạ là Hầu Cảnh chỉ ra rằng Đông Ngụy nên bắt sống Vũ Văn Thái thị chúng, vạn nhất phóng hỏa đốt chết hắn thì thi thể khó nhận dạng, lúc đó bách tính Đông Ngụy sẽ không tin chúng ta đánh bại được Vũ Văn Thái. Khi ấy một thuộc hạ khác là Bành Nhạc lại cho rằng với binh lực hiện tại của Đông Ngụy, gần như là một trăm lính Đông Ngụy chọi một lính Tây Ngụy, không lo không thắng. Trong tâm lý lạc quan mù quáng và tự đại đó, Cao Hoan càng thêm đắc ý, từ bỏ ý định đốt lau sậy. Sau đó Cao Hoan lệnh quân tiếp tục tiến vào đầm lầy và bãi cát để tìm quân Vũ Văn Thái. Khi đó quân Đông Ngụy cậy đông không sợ gì cả, xông thẳng vào đầm lầy và bãi cát, quân đội hỗn loạn, không còn hàng ngũ gì nữa. Vũ Văn Thái kiên nhẫn chờ đợi, khi thấy quân Đông Ngụy gần như đã hoàn toàn vào vòng mai phục liền hạ lệnh thúc trống tấn công. Đột nhiên tiếng trống vang trời, quân Tây Ngụy từ hai bên trái phải tấn công mãnh liệt quân Đông Ngụy, cắt đứt đội hình địch thành nhiều đoạn. Lúc này quân Đông Ngụy vốn đã không có hàng ngũ lại bị tập kích bất ngờ nên càng thêm hỗn loạn. Quân Đông Ngụy loạn thành một đoàn, trong môi trường địa lý xa lạ và phức tạp căn bản không thể chiến đấu, ngược lại trong lúc hỗn loạn còn giẫm đạp lên nhau, tử thương vô số. Vũ Văn Thái dẫn quân Tây Ngụy thừa thế huyết chiến, chém chết hơn sáu ngàn lính Đông Ngụy và bắt sống hơn tám vạn người, quân Đông Ngụy tan rã hoàn toàn, Cao Hoan trong lúc hỗn loạn chạy về phía Bồ Tân, vượt sông Vị rút lui sang phía đông. Đến đây Tây Ngụy giành thắng lợi trong trận Sa Uyển, Vị Khúc.
Trận Sa Uyển, Vị Khúc trong số rất nhiều cuộc giao tranh giữa Đông Ngụy và Tây Ngụy không được coi là chiến dịch lớn, nhưng qua trận chiến nhỏ này vẫn có thể thấy được khả năng cầm quân của chủ soái đôi bên trong môi trường địa lý phức tạp. Nhìn nhận toàn cuộc chiến, sự bố trí quân sự của chủ soái Tây Ngụy Vũ Văn Thái hoàn toàn phù hợp với những gì Tôn Tử chỉ ra: phải giỏi lợi dụng địa hình, bố trí quân đội sao cho địa hình có lợi cho mình, bất lợi cho địch, và phải phân tích đúng địch tình. Trước khi trận Sa Uyển, Vị Khúc nổ ra, Vũ Văn Thái không hề bị khuất phục trước đại quân Đông Ngụy đông đảo đang tràn tới, ông đã phân tích chính xác quân địch để đưa ra kết luận địch khinh địch và sức chiến đấu không mạnh. Sau đó ông lại chọn trước địa điểm mai phục và dụ được địch vào vòng vây. Ngược lại, chủ soái Đông Ngụy Cao Hoan mù quáng tiến quân, kiêu ngạo tự đại lại không nghe lời khuyên của bộ hạ mà tiến vào địa hình bất lợi. Tất cả những điều đó đều vi phạm pháp tắc hành quân đánh trận của Tôn Tử, thất bại là điều tất yếu.