Hồng Lâu Mộng
Hồi thứ ba mươi chín: Thôn lão lão nói năng tùy tiện - Tình ca ca cố ý hỏi đến cùng
Danh sách chương
Nói về mọi người thấy Bình Nhi đến, đều hỏi: “Nãi nãi nhà các cô làm gì thế? Sao không thấy đến?” Bình Nhi cười nói: “Nãi nãi lấy đâu ra thì giờ mà đến! Vì nói là chưa được ăn uống hẳn hoi, mà lại không đến được, nên bảo tôi đến hỏi xem còn không, bảo tôi lấy mấy con mang về nhà ăn.”
Tương Vân nói: “Có chứ, còn nhiều lắm.” Rồi vội bảo người lấy mười con thật lớn. Bình Nhi dặn: “Lấy thêm mấy con yếm tròn nhé.” Mọi người lại kéo Bình Nhi ngồi xuống, Bình Nhi không chịu. Lý Hoàn kéo lại cười nói: “Cứ bắt cô phải ngồi.” Rồi kéo cô ngồi xuống bên mình, bưng một chén rượu đưa đến tận miệng. Bình Nhi vội uống một ngụm, định đi ngay. Lý Hoàn nói: “Cứ không cho cô đi đấy. Rõ ràng là chỉ biết có con Phượng, nên không nghe lời tôi rồi.” Nói xong, lại bảo các bà vú đưa hộp về trước, “cứ bảo là tôi giữ Bình Nhi lại rồi.”
Bà già ấy một lát sau cầm hộp quay lại, nói: “Nhị nãi nãi bảo nãi nãi và các cô đừng cười chê là thèm ăn. Trong hộp này là bánh bột củ ấu và cuốn mỡ gà bên bà Cữu thái thái vừa cho người đưa sang, để nãi nãi và các cô dùng.” Lại bảo Bình Nhi: “Nói là sai cô đến, cô lại tham chơi không chịu về, khuyên cô uống ít thôi nhé.” Bình Nhi cười nói: “Uống nhiều thì đã làm gì tôi nào!” Vừa nói vừa cứ việc uống, lại ăn cả cua. Lý Hoàn ôm lấy cô cười nói: “Tiếc cho cái dáng vẻ tử tế thế này mà số mệnh lại bình thường, chỉ quanh quẩn trong buồng hầu hạ. Người không biết, ai chẳng coi cô như bà nãi nãi bà thái thái.”
Bình Nhi một mặt cùng Bảo Thoa, Tương Vân ăn uống, một mặt quay đầu cười nói: “Nãi nãi đừng sờ nắn nữa, làm tôi nhột quá.” Lý thị nói: “Ái chà, cái gì cứng thế này?” Bình Nhi đáp: “Chùm chìa khóa ạ.” Lý thị bảo: “Chìa khóa gì thế? Những đồ riêng tư quan trọng sợ người ta ăn trộm mất hay sao mà cứ mang theo người. Tôi hằng ngày vẫn nói đùa với mọi người rằng, có Đường Tăng đi thỉnh kinh thì có con ngựa trắng thồ đi; Lưu Trí Viễn đánh thiên hạ thì có con quỷ dưa đến dâng áo giáp; có con Phượng thì có cô. Cô chính là cái chùm chìa khóa tổng của nãi nãi nhà cô, còn cần cái chìa khóa này làm gì nữa!” Bình Nhi cười nói: “Nãi nãi uống rượu vào rồi lại đem tôi ra làm trò cười.”
Bảo Thoa cười nói: “Đây quả là lời thật. Tôi những lúc rảnh rỗi bình luận về người ta, thì mấy người các cô đều là trăm người không chọn được một. Cái khéo là mỗi người lại có cái hay riêng.” Lý Hoàn nói: “Lớn nhỏ đều có cái lẽ trời cả. Ví như trong buồng lão thái thái, nếu không có con Uyên Ương kia thì làm sao được. Từ thái thái trở đi, có ai dám bác lời lão thái thái đâu, thế mà nó hiện đang dám bác đấy. Lão thái thái lại chỉ nghe lời một mình nó thôi. Những đồ mặc đồ dùng của lão thái thái, người khác không nhớ nhưng nó đều nhớ cả, nếu không phải nó trông nom, chẳng biết đã bị người ta lừa gạt mất bao nhiêu rồi. Đứa trẻ ấy lòng dạ cũng công bằng, tuy thế nhưng lại hay nói tốt cho người khác, cũng không hề cậy thế khinh người.” Tích Xuân cười nói: “Lão thái thái hôm qua còn bảo, nó còn giỏi hơn cả chúng em nữa đấy.”
Bình Nhi nói: “Đó vốn là người tốt, chúng tôi sao bì kịp được.” Bảo Ngọc nói: “Con Thái Hà ở chỗ thái thái là người thật thà.” Thám Xuân bảo: “Chẳng phải sao, bên ngoài thật thà nhưng trong lòng có tính toán cả đấy. Thái thái cứ như pho tượng Phật, không để tâm đến công việc, nhưng nó thì đều biết hết. Phàm mọi việc lớn nhỏ, nó đều nhắc nhở thái thái làm. Ngay cả việc của lão gia ở nhà hay đi vắng nó cũng đều biết rõ, thái thái quên thì nó bí mật bảo cho thái thái.” Lý Hoàn nói: “Thế cũng được đi.” Rồi chỉ vào Bảo Ngọc nói: “Ở chỗ cậu công tử này, nếu không có Tập Nhân, các cô thử lường xem sẽ ra nông nỗi nào! Con Phượng dẫu là Sở Bá Vương thì cũng phải có hai cánh tay này mới nhấc nổi đỉnh nghìn cân. Nó mà không có con bé này thì sao được chu đáo như thế!”
Bình Nhi cười nói: “Lúc trước có bốn đứa đi theo hầu, đứa thì chết, đứa thì đi mất, chỉ còn lại mình tôi là con ma cô độc thôi.” Lý Hoàn bảo: “Cô quả là có phúc. Con Phượng cũng có phúc. Nghĩ ngày trước khi Châu đại gia còn sống, chẳng lẽ lại không có lấy hai người. Các cô xem tôi có phải hạng người không dung được người khác đâu, hằng ngày chỉ thấy hai người bọn họ không thoải mái. Cho nên Châu đại gia vừa mất, nhân lúc họ còn trẻ, tôi đều cho đi cả rồi. Nếu có một người giữ lòng ở lại, tôi đã có thêm cánh tay trợ lực.” Nói đoạn, nước mắt lã chã rơi. Mọi người đều bảo: “Việc gì phải đau lòng như thế. Chẳng thà giải tán đi thì hơn.” Nói rồi đều rửa tay, cùng nhau hẹn đến chỗ Giả mẫu và Vương phu nhân thỉnh an. Các bà già và nha đầu quét dọn đình, thu dọn chén đĩa.
Tập Nhân và Bình Nhi cùng đi lên phía trước, mời Bình Nhi vào phòng ngồi chơi, rồi hỏi: “Tiền tháng này sao mãi vẫn chưa phát thế?” Bình Nhi nghe hỏi, vội vàng nói khẽ: “Chậm hai ngày nữa là phát thôi. Tiền tháng này nãi nãi nhà tôi đã lĩnh từ sớm rồi, đem cho người ta vay lấy lãi; đợi thu đủ tiền lãi mới phát đấy. — Cô không được nói cho ai biết đâu nhé.” Tập Nhân cười nói: “Chẳng lẽ nãi nãi còn thiếu tiền tiêu sao! Hà tất phải nhọc lòng thế làm gì?” Bình Nhi cười bảo: “Mấy năm nay nhờ khoản tiền này, cộng với tiền công quỹ hằng tháng đem cho vay lấy lãi, một năm cũng kiếm được gần nghìn lạng bạc đấy.”
Tập Nhân cười nói: “Cầm tiền của chúng tôi, chủ tớ các người kiếm lời, lại dối chúng tôi bắt đợi dài cổ.” Bình Nhi bảo: “Cô lại nói lời vô lương tâm rồi. Chẳng lẽ cô còn thiếu tiền tiêu sao?” Tập Nhân nói: “Tôi tuy không thiếu, — chỉ là tôi cũng chẳng có chỗ nào mà dùng, — chỉ để chuẩn bị cho cái người kia thôi.” Bình Nhi nói: “Nếu cô có việc gì khẩn cấp cần dùng đến bạc, chỗ tôi còn mấy lạng, cô cứ lấy mà dùng trước, mai tôi trừ vào tiền của cô sau cũng được.” Tập Nhân nói: “Lúc này cũng chưa dùng tới. Sợ lúc cần lại không đủ, tôi sẽ sai người đến lấy sau.” Bình Nhi vâng lời, một mạch ra khỏi cửa vườn về nhà.
Chỉ thấy Phượng Thư không có ở trong phòng. Bỗng thấy Lưu lão lão và Bản Nhi hôm trước đến xin cứu tế lại tới, đang ngồi ở gian phòng bên kia, còn có vợ Trương Tài và vợ Chu Thụy ngồi cùng; lại có hai ba nha đầu đang dốc túi đựng táo, bí đỏ cùng ít rau dại dưới đất. Mọi người thấy cô vào đều vội đứng dậy. Lưu lão lão vì lần trước đã đến, biết địa vị của Bình Nhi nên vội nhảy xuống đất chào: “Cô khỏe chứ ạ?” Lại nói: “Ở nhà đều hỏi thăm sức khỏe. Đáng lẽ định đến thỉnh an cô nãi nãi và thăm cô từ sớm, nhưng vì việc đồng áng bận rộn quá. Khó khăn lắm năm nay mới thu thêm được hai thạch lương thực, dưa quả rau cỏ cũng phong thịnh. Đây là đợt đầu tiên hái xuống, chẳng dám đem bán đâu, để dành những thứ ngon nhất mang đến hiếu kính cô nãi nãi và các cô nếm thử. Các cô hằng ngày ăn sơn hào hải vị cũng ngấy rồi, cái này là đồ đồng nội, cũng gọi là tấm lòng nghèo khó của chúng tôi.”
Bình Nhi vội nói đa tạ đã tốn công. Lại mời ngồi, mình cũng ngồi xuống. Lại mời “thím Trương, thím Chu ngồi”. Rồi bảo tiểu nha đầu đi rót trà. Vợ Chu Thụy và vợ Trương Tài cười nói: “Hôm nay mặt cô có sắc xuân quá, vành mắt đều đỏ cả rồi.” Bình Nhi cười nói: “Chả là thế sao. Vốn tôi không uống đâu, nhưng đại nãi nãi và các cô cứ kéo lại ép uống bằng chết, chẳng đặng đừng, uống hai chén là mặt đỏ lựng lên rồi.” Vợ Trương Tài cười nói: “Tôi cũng đang muốn ăn đây mà chẳng ai mời. Mai kia có ai mời cô, nhớ dắt tôi theo với nhé.” Nói đoạn mọi người đều cười.
Vợ Chu Thụy nói: “Sáng sớm tôi đã thấy đám cua ấy rồi, một cân chỉ chừng hai ba con thôi. Ba lồng lớn thế kia, chắc phải đến bảy tám mươi cân đấy.” Vợ Chu Thụy lại nói: “Nếu tính từ trên xuống dưới, e là vẫn không đủ đâu.” Bình Nhi bảo: “Làm sao mà đủ được, chẳng qua là những người có tên tuổi mới được ăn một hai con. Còn đám tản mạn thì người có người không thôi.” Lưu lão lão nói: “Cua như thế này, năm nay trị giá năm phân một cân, mười cân là năm tiền. Năm năm là hai lạng rưỡi, ba lần năm là mười lăm, cộng thêm rượu thức ăn, cả thảy cũng phải đến hơn hai mươi lạng bạc. A Di Đà Phật! Số tiền một bữa này đủ cho nhà nông chúng tôi sống cả năm đấy.”
Bình Nhi bèn hỏi: “Chắc là đã gặp nãi nãi rồi chứ?” Lưu lão lão đáp: “Gặp rồi, nãi nãi bảo chúng tôi cứ chờ ở đây.” Nói đoạn lại nhìn trời qua cửa sổ, bảo: “Trời cũng muộn rồi, chúng tôi xin phép về thôi. Kẻo không ra khỏi thành được thì lỡ dở mất.” Vợ Chu Thụy nói: “Lời ấy cũng đúng, để tôi đi xem hộ bà xem sao.” Nói rồi đi một mạch. Nửa ngày mới quay lại, cười nói: “Quả là phúc của bà đến rồi, lại hợp duyên với hai người này.” Bình Nhi và mọi người hỏi: “Thế nào?” Vợ Chu Thụy cười nói: “Nhị nãi nãi đang ở chỗ lão thái thái. Tôi vốn định bí mật báo với Nhị nãi nãi: ‘Lưu lão lão muốn về nhà, sợ muộn không kịp ra khỏi thành’. Nhị nãi nãi bảo: ‘Đường sá xa xôi, tội nghiệp bà ấy gồng gánh đồ nặng đến đây. Muộn rồi thì cứ ở lại một đêm, mai hãy về’. Thế chẳng phải hợp duyên Nhị nãi nãi sao. Thế cũng thôi đi. Chẳng ngờ lão thái thái lại nghe thấy, hỏi Lưu lão lão là ai. Nhị nãi nãi bèn thưa rõ ngọn ngành. Lão thái thái nói: ‘Ta đang muốn tìm một người già từng trải để nói chuyện, hãy mời bà ấy lại đây ta gặp một chút’. Thế chẳng phải là cái duyên trên trời rơi xuống sao.” Nói xong giục Lưu lão lão đứng dậy đi.
Lưu lão lão nói: “Cái hình hài này của tôi sao dám gặp. Chị dâu tốt, chị cứ bảo tôi về rồi nhé.” Bình Nhi vội nói: “Bà cứ đi đi, không can gì đâu. Lão thái thái nhà chúng tôi vốn là người thương người già, thương kẻ nghèo, không giống hạng người kiêu ngạo lừa lọc kia đâu. Chắc là bà sợ, tôi và thím Chu sẽ đưa bà đi.” Nói đoạn, cùng vợ Chu Thụy dẫn Lưu lão lão về phía chỗ Giả mẫu. Đám tiểu sai trực ở cổng trong thấy Bình Nhi ra đều đứng dậy, có hai đứa chạy lại gọi “cô Bình”. Bình Nhi hỏi: “Lại có chuyện gì nữa?” Đứa tiểu sai cười nói: “Lúc này cũng muộn rồi, mẹ em ốm, đang đợi em đi mời thầy thuốc. Cô tốt bụng, cho em xin nghỉ nửa buổi có được không?” Bình Nhi bảo: “Các người hay thật đấy, cứ bàn tính sẵn với nhau, mỗi ngày một đứa xin nghỉ. Lại không thưa với nãi nãi, chỉ quấy rầy tôi. Hôm trước thằng Trụ đi vắng, Nhị gia gọi không được, tôi phải đứng ra nhận thay, lại còn bị bảo là làm phúc. Hôm nay anh lại đến nữa.”
Vợ Chu Thụy nói: “Đúng là mẹ nó ốm thật đấy, cô cũng nhận hộ nó, cho nó đi đi.” Bình Nhi dặn: “Sáng sớm mai phải đến đấy. Nghe đây, tôi còn có việc sai anh đấy. Lại còn ngủ đến lúc mặt trời chiếu tận mông mới đến. Anh đi chuyến này, mang lời nhắn cho thằng Vượng, cứ bảo là lời nãi nãi, hỏi nó tiền lãi còn lại, nếu mai không nộp đủ thì nãi nãi cũng không thèm lấy nữa, cho nó dùng luôn đấy.” Đứa tiểu sai mừng rỡ vâng lời đi ngay.
Bình Nhi và mọi người đến phòng Giả mẫu, bấy giờ chị em ở Đại Quan Viên đều đang ở trước mặt Giả mẫu hầu hạ. Lưu lão lão bước vào, chỉ thấy trong phòng toàn trâm ngọc vòng vàng, áo quần rực rỡ, chẳng biết là những ai. Chỉ thấy trên một chiếc sập có một bà cụ đang nằm khểnh, sau lưng là một nha đầu xinh như người ngọc mặc đồ lụa là đang đấm chân. Phượng Thư đang đứng nói cười vui vẻ. Lưu lão lão biết ngay là Giả mẫu, vội tiến lên cười xởi lởi, vái mấy vái, miệng nói: “Xin thỉnh an lão Thọ Tinh.” Giả mẫu cũng hơi nhổm người hỏi thăm, rồi bảo vợ Chu Thụy bưng ghế mời ngồi. Thằng Bản Nhi vẫn nhát người, không biết chào hỏi gì. Giả mẫu hỏi: “Bà thông gia, năm nay bà bao nhiêu tuổi rồi?” Lưu lão lão vội đứng dậy đáp: “Thưa, tôi năm nay bảy mươi lăm rồi ạ.”
Giả mẫu bảo mọi người: “Tuổi cao thế này mà vẫn khỏe mạnh thế. Hơn tôi mấy tuổi đấy. Tôi mà đến tuổi ấy, chẳng biết còn đi đứng được thế nào.” Lưu lão lão cười nói: “Chúng tôi sinh ra là người chịu khổ, lão thái thái sinh ra là để hưởng phúc. Nếu chúng tôi cũng thế này thì việc đồng áng chẳng có ai làm mất.” Giả mẫu hỏi: “Mắt và răng vẫn tốt chứ?” Lưu lão lão đáp: “Vẫn tốt ạ, chỉ có năm nay cái răng hàm bên trái hơi lung lay thôi.” Giả mẫu nói: “Tôi già rồi, chẳng làm được gì nữa. Mắt thì hoa, tai thì điếc, trí nhớ cũng mất rồi. Mấy người họ hàng già tôi đều không nhớ nổi. Họ hàng đến, tôi sợ người ta cười mình nên chẳng biết tiếp đãi thế nào. Chỉ là thứ gì nhai được thì ăn vài miếng, ngủ một giấc, lúc buồn thì cùng đám cháu trai cháu gái này đùa vui một hồi là hết ngày.”
Lưu lão lão cười nói: “Đó chính là phúc của lão thái thái rồi. Chúng tôi muốn thế mà cũng chẳng được.” Giả mẫu nói: “Phúc gì đâu, chỉ là một bà già phế thải thôi.” Câu nói làm ai nấy đều cười. Giả mẫu lại cười bảo: “Ta vừa nghe con Phượng nói bà mang theo nhiều dưa rau đến. Bảo nó mau thu dọn đi. Ta đang muốn ăn ít dưa rau vừa hái ngoài đồng. Đồ mua ngoài phố không ngon bằng đồ ruộng nhà các bà đâu.” Lưu lão lão cười nói: “Đây là đồ đồng nội, chỉ là ăn cho lạ miệng thôi. Chứ như chúng tôi muốn ăn thịt cá thì cũng chẳng có tiền mà mua.”
Giả mẫu lại nói: “Hôm nay đã nhận người nhà rồi thì đừng có đi tay không, nếu không chê chỗ tôi thì cứ ở lại một hai ngày rồi hãy về. Chúng tôi cũng có cái vườn, trong vườn cũng có quả, ngày mai bà cũng nếm thử xem, rồi mang một ít về nhà. Bà coi như đi thăm họ hàng một chuyến.” Phượng Thư thấy Giả mẫu vui lòng, cũng vội giữ lại: “Chỗ chúng tôi tuy không rộng bằng sân phơi nhà bà, nhưng phòng trống cũng còn vài gian. Bà ở lại hai ngày, kể mấy chuyện lạ chuyện xưa ở quê cho lão thái thái nghe nhé.” Giả mẫu cười nói: “Con Phượng kia, đừng có đùa với bà ấy. Bà ấy là người nhà quê, thật thà, sao chịu nổi trò trêu chọc của nhà ngươi.”
Nói đoạn lại bảo người lấy hoa quả cho Bản Nhi ăn. Bản Nhi thấy đông người lại không dám ăn. Giả mẫu lại bảo lấy ít tiền cho nó, bảo đám tiểu sai dẫn nó ra ngoài chơi. Lưu lão lão uống trà xong, bèn đem những chuyện mắt thấy tai nghe ở chốn thôn quê kể cho Giả mẫu nghe, Giả mẫu nghe càng thêm thích thú. Đang nói chuyện, Phượng Thư bèn sai người đến mời Lưu lão lão đi ăn cơm tối. Giả mẫu lại chọn mấy món ăn của mình sai người đưa sang cho Lưu lão lão dùng. Phượng Thư biết đã hợp ý Giả mẫu, ăn cơm xong lại phái người sang. Uyên Ương vội bảo bà già dẫn Lưu lão lão đi tắm rửa, mình tự chọn hai bộ quần áo thường ngày bảo Lưu lão lão thay vào.
Lưu lão lão nào đã thấy cách hành sự như thế bao giờ, vội thay quần áo xong đi ra, ngồi trước sập Giả mẫu, lại tìm chuyện kể tiếp. Bấy giờ Bảo Ngọc và các chị em cũng đều ngồi đó. Họ nào đã từng nghe những chuyện như thế bao giờ, cảm thấy còn hay hơn cả lời kể của mấy ông thầy bói mù. Lưu lão lão tuy là người quê mùa, nhưng sinh ra vốn cũng có kiến thức; lại thêm tuổi già trải đời nhiều. Thấy một là Giả mẫu đang cao hứng, hai là thấy đám công tử tiểu thư này đều thích nghe, nên dẫu hết chuyện bà cũng bịa thêm chuyện để kể. Bà bèn nói:
“Ở làng chúng tôi trồng ruộng trồng rau, hằng năm hằng ngày, xuân hạ thu đông, mưa gió dãi dầu, làm gì có lúc nào ngồi không, ngày nào cũng coi bờ ruộng là đình nghỉ mát, chuyện kỳ quái gì mà chẳng thấy. Như mùa đông năm ngoái, tuyết rơi liền mấy ngày, tuyết dưới đất dày đến ba bốn thước. Sáng hôm ấy tôi dậy sớm, chưa ra khỏi cửa phòng đã nghe bên ngoài tiếng củi khô sột soạt. Tôi nghĩ chắc có người đến ăn trộm củi. Tôi bò ra khe cửa nhìn thử, thì ra không phải người trong làng mình.”
Giả mẫu bảo: “Chắc là khách qua đường đấy, lạnh quá thấy củi có sẵn thì rút lấy một ít sưởi lửa, cũng là chuyện thường tình.” Lưu lão lão cười nói: “Cũng chẳng phải là khách đâu, nên mới nói là kỳ lạ. Lão Thọ Tinh đoán xem là ai? Hóa ra là một cô nương chừng mười bảy mười tám tuổi cực kỳ xinh đẹp, tóc chải bóng mượt, mặc áo bông màu đỏ rực, váy lụa trắng —”
Vừa nói đến đây, bỗng nghe bên ngoài người ta xôn xao huyên náo, lại nói: “Không can gì đâu, đừng làm lão thái thái sợ.” Giả mẫu nghe thấy vội hỏi: “Có chuyện gì thế?” Nha đầu vào thưa: “Chuồng ngựa ở viện phía nam bị hỏa hoạn. Không can gì ạ, đã cứu được rồi.” Giả mẫu vốn nhát gan, nghe thấy lời ấy vội đứng dậy vịnh tay người khác đi ra hành lang để xem, chỉ thấy phía đông nam ánh lửa vẫn còn sáng. Bà sợ quá miệng niệm Phật, vội bảo người đến trước mặt Thần Lửa thắp nhang. Vương phu nhân và mọi người cũng vội vàng lại thỉnh an, lại thưa: “Đã dập tắt rồi, mời lão thái thái vào phòng thôi ạ.” Giả mẫu nhìn kỹ cho đến khi ánh lửa tắt hẳn mới dẫn mọi người vào trong.
Bảo Ngọc bèn vội hỏi Lưu lão lão: “Cô gái ấy giữa trời tuyết lớn thế làm gì mà lại rút củi? Lỡ đâu bị lạnh mà sinh bệnh thì sao?” Giả mẫu bảo: “Vừa mới nói chuyện rút củi đã gây ra hỏa hoạn rồi, con còn hỏi nữa. Đừng nói chuyện đó nữa, nói chuyện khác đi.” Bảo Ngọc nghe xong, trong lòng dẫu không vui nhưng cũng đành thôi. Lưu lão lão bèn lại nghĩ ra một câu chuyện khác, kể rằng:
“Ở phía đông làng chúng tôi có một bà lão, năm nay hơn chín mươi tuổi rồi. Bà ấy hằng ngày ăn chay niệm Phật, ai ngờ làm cảm động đến Quán Thế Âm Bồ Tát, đêm đến báo mộng rằng: ‘Nhà ngươi thành tâm như thế, vốn dĩ nhà ngươi phải tuyệt tự, nay ta tâu với Ngọc Hoàng cho nhà ngươi một đứa cháu trai’. Nguyên là bà lão này chỉ có một đứa con trai duy nhất, đứa con trai này cũng chỉ sinh được một đứa cháu, khó khăn lắm mới nuôi được đến mười bảy mười tám tuổi thì chết mất, bà lão khóc lóc không biết bao nhiêu mà kể. Sau đó quả nhiên lại sinh thêm một đứa nữa, năm nay mới mười ba mười bốn tuổi, trông trắng trẻo như hòn tuyết, thông minh lanh lợi vô cùng. Thế mới thấy thần Phật là có thật.”
Lời kể này vô tình hợp với tâm sự của Giả mẫu và Vương phu nhân, ngay cả Vương phu nhân cũng nghe đến ngẩn người ra.
Trong lòng Bảo Ngọc chỉ tơ tưởng đến câu chuyện rút củi, bèn âm thầm tính toán. Thám Xuân bèn hỏi cậu: “Hôm qua đã làm phiền Sử đại muội muội, chúng ta về bàn nhau lập một thi xã, lại bày tiệc mời lão thái thái thưởng hoa cúc, thấy thế nào?” Bảo Ngọc bảo: “Lão thái thái đã nói rồi, còn phải bày tiệc trả lại lễ cho Sử muội muội, bảo chúng ta ngồi tiếp nữa. Đợi ăn của lão thái thái xong, chúng ta mời sau cũng chưa muộn.” Thám Xuân nói: “Càng về sau trời càng lạnh, lão thái thái chưa chắc đã cao hứng.” Bảo Ngọc bảo: “Lão thái thái lại thích mưa tuyết, hay là chúng ta đợi đợt tuyết đầu mùa, mời lão thái thái thưởng tuyết, chẳng phải tốt sao? Chúng ta ngâm thơ dưới tuyết lại càng thú hơn.”
Lâm Đại Ngọc vội cười nói: “Chúng ta ngâm thơ dưới tuyết ư? Theo em, hay là kiếm lấy một bó củi, dưới tuyết đi rút củi, còn thú vị hơn nhiều.” Nói đoạn Bảo Thoa và mọi người đều cười. Bảo Ngọc lườm cô một cái, cũng không đáp lời. Một lát sau mọi người giải tán, Bảo Ngọc kéo riêng Lưu lão lão lại gặng hỏi xem cô gái ấy là ai. Lưu lão lão đành phải bịa chuyện kể rằng: “Đó vốn là một cái miếu nhỏ thờ ở bờ ruộng phía bắc làng chúng tôi, không phải thần Phật gì đâu, ngày trước có một vị lão gia nào đó —” Nói đoạn lại định nghĩ tên họ. Bảo Ngọc bảo: “Tên họ gì cũng được, bà không cần nghĩ nữa, cứ nói nguyên do là được.”
Lưu lão lão nói: “Vị lão gia này không có con trai, chỉ có một cô tiểu thư tên là Minh Ngọc. Tiểu thư thông hay chữ nghĩa, ông bà lão gia yêu quý như trân bảo. Tiếc thay cô Minh Ngọc này đến năm mười bảy tuổi thì lâm bệnh mà chết.” Bảo Ngọc nghe xong, giậm chân thở dài, lại hỏi sau đó thế nào. Lưu lão lão nói: “Vì ông bà lão gia thương nhớ không nguôi, bèn xây cái miếu này, đúc tượng cô Minh Ngọc, phái người thắp nhang chăm sóc. Nay ngày tháng thoi đưa, người mất cảnh tan, miếu cũng nát rồi, cái tượng ấy mới thành tinh.”
Bảo Ngọc vội nói: “Không phải thành tinh đâu, theo quy tắc hạng người như thế là tuy chết mà không chết.” Lưu lão lão nói: “A Di Đà Phật! Hóa ra là vậy. Chẳng hay công tử nói, chúng tôi đều coi là thành tinh cả. Cô ấy thường biến thành người đi lang thang ở các làng xóm quán sá. Tôi vừa nói người rút củi chính là cô ấy đấy. Người làng chúng tôi còn đang bàn nhau đập bỏ bức tượng, san bằng cái miếu kia đi.”
Bảo Ngọc vội can: “Mau đừng làm thế. Nếu san bằng miếu, tội lỗi không nhỏ đâu.” Lưu lão lão nói: “May mà công tử bảo cho tôi biết. Mai tôi về sẽ ngăn họ lại là xong.” Bảo Ngọc nói: “Lão thái thái và thái thái nhà tôi đều là người thiện, cả nhà lớn nhỏ đều thích làm việc thiện, yêu nhất là tu sửa chùa miếu đúc tượng thần. Ngày mai tôi sẽ viết một tờ sớ, quyên góp cho bà một ít tiền công đức, bà cứ làm chủ nhang, gom tiền lại tu sửa cái miếu ấy, lại tô điểm lại pho tượng, mỗi tháng cho bà tiền nhang đèn để thắp hương, chẳng phải tốt sao?”
Lưu lão lão nói: “Nếu được như thế, tôi nhờ phúc cô tiểu thư ấy mà cũng có vài đồng để tiêu rồi.” Bảo Ngọc lại hỏi tên đất tên làng, đi lại xa gần, tọa lạc phương nào. Lưu lão lão bèn thuận miệng bịa đại ra. Bảo Ngọc tin là thật, về đến phòng tính toán suốt một đêm. Sáng sớm hôm sau liền đi ra đưa cho Minh Yên mấy trăm đồng tiền, theo hướng và tên đất Lưu lão lão nói, bảo Minh Yên đi xem xét cho rõ ràng, về rồi sẽ tính tiếp.
Sau khi Minh Yên đi, Bảo Ngọc đợi mãi chẳng thấy về, nóng ruột như kiến bò trên chảo nóng. Khó khăn lắm mới đợi đến lúc mặt trời lặn, mới thấy Minh Yên hớn hở quay về. Bảo Ngọc vội hỏi: “Có miếu không?” Minh Yên cười nói: “Cậu nghe không rõ, làm tôi tìm mệt đứt hơi. Cái tên đất tọa lạc ấy chẳng giống như cậu nói, nên tôi tìm suốt cả ngày, mãi tới bờ ruộng phía đông bắc mới thấy có một cái miếu nát.” Bảo Ngọc nghe xong mừng rỡ hớn hở, vội nói: “Lưu lão lão là người có tuổi, nhất thời nhớ nhầm cũng là chuyện thường. Anh cứ nói những gì anh thấy xem nào.”
Minh Yên nói: “Cửa miếu đúng là mở về hướng nam, cũng nát lắm rồi. Tôi đang tìm đến bực cả mình, vừa thấy cái đó tôi bảo ‘tốt rồi’, vội vàng chạy vào. Nhìn thấy cái tượng đất, sợ quá tôi chạy bắn ra ngoài, trông cứ như người thật vậy.” Bảo Ngọc mừng rỡ cười nói: “Cô ấy có thể biến thành người thì tự nhiên phải có sinh khí rồi.” Minh Yên vỗ tay nói: “Làm gì có cô gái nào, hóa ra là một vị Thần Dịch mặt xanh tóc đỏ.” Bảo Ngọc nghe xong, nhổ một bãi mắng: “Đúng là cái đồ vô dụng! Có tí việc ấy cũng làm không xong.”
Minh Yên nói: “Nhị gia lại chẳng biết xem sách gì, hoặc nghe lời mê sảng của ai mà tin là thật, giao cho tôi cái việc không đầu không cuối này đi húc đầu vào đá, sao lại bảo tôi vô dụng.” Bảo Ngọc thấy cậu ta cáu, vội vỗ về: “Anh đừng nóng. Hôm nào rảnh anh lại đi tìm tiếp. Nếu bà ấy lừa chúng ta thì tự nhiên là không có; nếu quả thật có thì chẳng phải anh cũng tích được âm đức sao. Tôi nhất định sẽ thưởng hậu cho anh.” Đang nói chuyện, thấy tiểu sai ở cổng trong đến báo: “Các cô ở phòng lão thái thái đang đứng ở cổng trong tìm Nhị gia kìa.”