Logo
Đăng nhập Đăng ký
Menu
  • Trang chủ
  • Truyện
    • Hiện đại
    • Niên đại
    • Cổ đại
    • Quân sự
    • Tổng tài hào môn
    • Đô thị
    • Tình duyên công sở
    • Showbiz minh tinh
    • Thanh xuân vườn trường
    • Hiện thực cuộc sống
    • Cung thất trạch đấu
    • Quyền mưu thiên hạ
    • Tiên hiệp
    • Chủng điền Kinh thương
    • Võ hiệp giang hồ
    • Trọng sinh
    • Xuyên không
    • Hệ thống
    • Huyền huyễn
    • Khoa học viễn tưởng
    • Tâm linh dị thường
    • Trinh thám ly kỳ
    • Hắc bang
    • Cưới trước yêu sau
    • Cưỡng chế yêu
    • Mạt thế
    • Cao thủ dị năng
    • Kỳ môn mật thư
    • Không gian
    • Quan trường
    • Thám hiểm
    • Thượng cổ hồng hoang
    • Xuyên sách
  • Sách
    • Sách thiếu nhi
    • Văn học nghệ thuật
    • Xã hội nhân văn
    • Hạt giống tâm hồn
    • Văn học kinh điển
    • Đạo thành công
    • Quản lý kinh doanh
  • Hướng dẫn nạp xu
Đăng nhập Đăng ký
  • Trang chủ
  • Truyện
    • Hiện đại
    • Niên đại
    • Cổ đại
    • Quân sự
    • Tổng tài hào môn
    • Đô thị
    • Tình duyên công sở
    • Showbiz minh tinh
    • Thanh xuân vườn trường
    • Hiện thực cuộc sống
    • Cung thất trạch đấu
    • Quyền mưu thiên hạ
    • Tiên hiệp
    • Chủng điền Kinh thương
    • Võ hiệp giang hồ
    • Trọng sinh
    • Xuyên không
    • Hệ thống
    • Huyền huyễn
    • Khoa học viễn tưởng
    • Tâm linh dị thường
    • Trinh thám ly kỳ
    • Hắc bang
    • Cưới trước yêu sau
    • Cưỡng chế yêu
    • Mạt thế
    • Cao thủ dị năng
    • Kỳ môn mật thư
    • Không gian
    • Quan trường
    • Thám hiểm
    • Thượng cổ hồng hoang
    • Xuyên sách
  • Sách
    • Sách thiếu nhi
    • Văn học nghệ thuật
    • Xã hội nhân văn
    • Hạt giống tâm hồn
    • Văn học kinh điển
    • Đạo thành công
    • Quản lý kinh doanh
  • Hướng dẫn nạp xu
  1. Home
  2. Cùng Con Trưởng Thành: Trò Chuyện Với Phụ Huynh Về Giáo Dục Tiểu Học Và Trung Học
  3. Chương 9: Bồi dưỡng và giáo dục thói quen cho học sinh

Cùng Con Trưởng Thành: Trò Chuyện Với Phụ Huynh Về Giáo Dục Tiểu Học Và Trung Học

Chương 9: Bồi dưỡng và giáo dục thói quen cho học sinh

Danh sách chương

1 Nội dung tóm tắt 2 Chương 1: Những kiến thức cơ bản về hợp tác giữa nhà trường và gia đình 3 Chương 2: Cơ sở lý luận về sự hợp tác giữa nhà trường và phụ huynh 4 Chương 3: Tiến trình phát triển hợp tác giữa nhà trường và phụ huynh ở nước ta 5 Chương 4: Phương thức và nội dung hợp tác giữa nhà trường và gia đình 6 02 7 Chương 5: Các ví dụ thành công về hợp tác giữa nhà trường và gia đình 8 Chương 6: Các vấn đề và đối sách trong hợp tác giữa nhà trường và gia đình 9 Chương 6: Các vấn đề và đối sách trong hợp tác giữa nhà trường và gia đình (Tiếp theo) 10 Chương 7: Triển vọng và thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và gia đình 11 Chương 8: Phụ đạo tâm lý và giáo dục học sinh 12 02 Xây dựng và duy trì môi trường tâm lý lớp học tốt đẹp 13 Chương 9: Bồi dưỡng và giáo dục thói quen cho học sinh Đang đọc 14 Chương 10: Hợp tác giữa gia đình và nhà trường là nguồn cội của giáo dục

Tăng cỡ chữ
Giảm cỡ chữ
Chế độ tối/sáng
Cấu hình font

I. Đặt vấn đề
Bối cảnh nghiên cứu
Cuối năm 2002, những hành vi không tốt của học sinh tại trường đã thu hút sự chú ý của ban lãnh đạo và giáo viên. Ví dụ, trong thời gian ở trường, học sinh nói chuyện lớn tiếng bất kể tình huống mà không hề cân nhắc liệu có ảnh hưởng đến người khác hay không; ngó lơ khách đến thăm trường, không bao giờ chủ động chào hỏi hay nhiệt tình giúp đỡ; nhiều học sinh đi vệ sinh xong không xả nước rồi thản nhiên rời đi, mặc kệ mùi hôi khó chịu trong nhà vệ sinh… Những hiện tượng này khiến giáo viên trong trường vô cùng lo lắng. Hiện nay, sự quan tâm của xã hội đối với học sinh tiểu học tập trung vào hai khía cạnh là học tập và phụ đạo ngoài giờ, trong khi lại lơ là, buông lỏng việc giáo dục phẩm đức tư tưởng, thói quen hành vi và tố chất đạo đức của các em. Nếu không coi trọng việc xây dựng đạo đức tư tưởng và chuyển đổi quy phạm hành vi cho học sinh, chúng ta sẽ không chỉ đối mặt với vấn đề đạo đức cá nhân của học sinh, mà sẽ là sự thoái bộ của cả xã hội.
Ý nghĩa nghiên cứu
1. Ý nghĩa lý luận
Bồi dưỡng con người có tố chất đạo đức cao thượng là một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục. Dân tộc Trung Hoa xưa nay vốn là vùng đất lễ nghi, quốc gia văn minh, cực kỳ coi trọng luân lý đạo đức, chú trọng tu dưỡng cá nhân và tự hoàn thiện bản thân. Cùng với sự phát triển của xã hội, tố chất đạo đức của công dân ngày càng được coi trọng. Nhiều quốc gia phát triển rất chú trọng giáo dục đạo đức cho học sinh và công dân, tập trung bồi dưỡng thói quen hành vi tốt, giáo dục các em học cách trở thành công dân văn minh. Giáo dục đạo đức triển khai tại nhà trường là nền tảng để nâng cao tố chất đạo đức công dân của toàn xã hội. Chất lượng của công tác nền tảng này vừa ảnh hưởng đến sự trưởng thành toàn diện, lành mạnh của người học, vừa liên quan đến tương lai của quốc gia và dân tộc. Hiểu được đạo lý làm người cơ bản là yêu cầu cơ bản của xã hội đối với mỗi công dân, cũng là nội dung trung tâm của việc bồi dưỡng nhân tài trong nhà trường. Đúng như người xưa đã nói: “Ngày còn trẻ, trước tiên phải biết người hiền hay không, việc đúng hay sai, lời phải hay trái, thì tâm thuật tự nhiên hướng chính, dù rời xa cha mẹ sư trưởng cũng không đến nỗi lầm đường lạc lối.” Mục đích hàng đầu của dạy chữ dạy người chính là giáo dục học sinh cách làm người. Một trong “bốn có” yêu cầu học sinh “có đạo đức”, và đứng đầu trong bốn nhiệm vụ của giáo dục nền tảng —— học làm người, học cầu tri thức, học làm việc, học rèn luyện thân thể —— chính là giáo dục học sinh “học làm người”. Nhà giáo dục hiện đại Thái Nguyên Bồi cho rằng, một trong những mục đích của giáo dục phổ thông là “tạo nên nhân cách kiện toàn”. Ông Diệp Thánh Đào cũng chỉ ra: “Ý nghĩa và mục đích của thụ giáo chính là làm người, làm thành viên xã hội hợp cách, làm công dân xã hội hợp cách.” Qua đó có thể thấy: Học làm người là tiền đề và nền móng của việc bồi dưỡng nhân tài, nhân tài chính là thành nhân trước, thành tài sau.
2. Ý nghĩa thực tiễn
Là một giáo viên, chúng ta nên nhận thức được rằng: Đức dục là một môn khoa học, cầu chân là bản chất; đức dục là một môn nghệ thuật, đổi mới là sinh mệnh; đức dục càng là một sự nghiệp, cống hiến là chân đế. Tâm hồn học sinh là một mảnh đất màu mỡ, gieo xuống hạt giống tư tưởng, hành vi đạo đức và thói quen, trong tương lai không xa sẽ gặt hái được vận mệnh. Những thói quen tưởng chừng tầm thường trong mắt người bình thường, khi cộng dồn lại chính là nhân cách, quyết định vận mệnh của một con người.
Những năm gần đây, nhà trường ngày càng coi trọng giáo dục đức dục. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai vẫn còn tồn tại những vấn đề nghiêm trọng: mục tiêu không rõ ràng, nội dung trừu tượng, yêu cầu thiếu thực tế, thuyết giáo rỗng tuếch, huấn luyện máy móc, phương thức nhồi nhét phiến diện và mô hình nhận thức duy lý hóa, dẫn đến tình trạng học sinh nói một đằng làm một nẻo và sự đứt gãy giữa “tri” và “hành”. Nhà trường nên áp dụng các phương pháp thiết thực và hiệu quả, khiến học sinh cảm nhận rõ đức dục ở ngay bên cạnh các em, nằm trong từng lời nói, hành động, cử chỉ. Công tác đức dục nên giảm bớt hình thức, chú trọng thực hiệu, bắt đầu từ những việc nhỏ, tăng cường giáo dục nền tảng làm người.
Căn cứ xây dựng
1. Dựa trên bối cảnh xã hội
Giáo dục chính là bồi dưỡng thói quen. Đây là cách hiểu của ông Diệp Thánh Đào về bản chất giáo dục. “Thói quen” là một kiểu định thế hành vi của con người, được hình thành dần dần trong quá trình thực tiễn lâu dài. Tục ngữ có câu: “Tích ngàn tích vạn, không bằng dưỡng một thói quen tốt.” Qua đó thấy được tầm quan trọng của thói quen. Vì vậy, nhà trường luôn coi trọng việc bồi dưỡng thói quen hành vi cho học sinh. Toàn thể cán bộ giáo viên cần quán triệt thực hiện các nội dung quan trọng của 《Quyết định về cải cách và phát triển giáo dục nền tảng》 và 《Cương yếu thực hiện xây dựng đạo đức công dân》, triển khai toàn diện giáo dục tố chất, nâng cao vị thế chủ thể của công tác đức dục học sinh, tăng cường tính thực hiệu của xây dựng đức dục trong trường học, bồi dưỡng những người xây dựng và tiếp nối hợp cách của thời kỳ mới.
2. Dựa trên sự hỗ trợ của khu vực
Dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Viện Nghiên cứu Giáo dục quận, nhà trường tích cực tham gia thực hiện nghiên cứu đề tài tính thực hiệu của đức dục, bám sát đề tài nhánh “Thực hiện ‘Ba học’, định hình quy phạm hành vi đạo đức học sinh, nâng cao vị thế chủ thể đức dục của học sinh tiểu học, tăng cường tính thực hiệu của công tác đức dục nhà trường”. Đề tài này nỗ lực lấy việc nâng cao tố chất đạo đức chủ thể của toàn thể học sinh làm điểm đột phá, tăng cường cơ chế công tác đức dục và xây dựng đội ngũ giáo viên, nâng cao chức năng giáo dục của giảng dạy trên lớp và các hoạt động thực tiễn, cải thiện môi trường giáo dục xã hội, nhà trường, gia đình, sáng tạo mô hình đức dục chủ thể học sinh mới, nâng cao toàn diện trình độ đạo đức tư tưởng của học sinh tiểu học, định hình quy phạm hành vi đạo đức ưu tú, tăng cường tính nhắm đích và thực hiệu của công tác đức dục nhà trường.
II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng điều tra lần này là giáo viên, học sinh và một phần phụ huynh. Phát ra 150 phiếu khảo sát giáo viên, tỷ lệ thu hồi 98%; 600 phiếu khảo sát học sinh, tỷ lệ thu hồi 96%; 100 phiếu khảo sát phụ huynh, tỷ lệ thu hồi 85%.
Phương pháp nghiên cứu
1. Điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp nghiên cứu lý luận liên hệ thực tiễn
2. Phương pháp “tam hiệp tác” giữa nghiên cứu khoa học, lãnh đạo hành chính và giáo viên trực tiếp giảng dạy
3. Phương pháp kết hợp mạng lưới giáo dục ba bên: nhà trường, gia đình, xã hội
4. Phương pháp nghiên cứu hệ thống luận
5. Phương pháp nghiên cứu thực chứng
Phương pháp thực hiện
1. Mục tiêu kế hoạch
(1) Phát huy vai trò quản lý chủ đạo của nhà trường và vai trò quản lý dẫn dắt của giáo viên, thông qua nhiều phương thức để định hình thói quen hành vi đạo đức tốt cho học sinh, thúc đẩy sự phát triển thân tâm lành mạnh.
(2) Tận dụng vai trò của trận địa tuyên truyền và trận địa hoạt động của Đội Thiếu niên Tiền phong, tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền chủ đề và trải nghiệm, định hình thói quen hành vi ưu tú cho học sinh.
(3) Khai thác triệt để điều kiện thuận lợi của việc học sinh nội trú, kết hợp giữa trên lớp và ngoài giờ, giữa khu vực giảng dạy và khu vực sinh hoạt, cùng tiến hành song song để thúc đẩy việc hình thành thói quen hành vi tốt.
(4) Nhắm vào đặc điểm của học sinh, lấy sự hợp tác ba bên nhà trường, gia đình, xã hội làm hình thức giáo dục, khiến việc giáo dục thói quen hành vi trở nên cụ thể và đặc sắc hơn.
(5) Lý luận liên hệ thực tiễn, khám phá các kênh định hình và bồi dưỡng thói quen hành vi tốt ở giai đoạn tiểu học. Nghiên cứu sâu hơn mối quan hệ giữa thói quen hành vi và sự phát triển nhân cách, thúc đẩy nhân cách phát triển lành mạnh.
2. Hướng thực hiện
(1) Kết hợp trong giờ và ngoài giờ
Làm nổi bật trận địa chính là giảng dạy trên lớp, nắm chắc nghiên cứu giảng dạy trên lớp. Ngoài giờ tăng cường nghiên cứu chỉ dẫn hoạt động thực tiễn cho học sinh, giúp học sinh được nâng cao và hoàn thiện trong thực tiễn.
(2) Kết hợp khu vực giảng dạy và khu vực sinh hoạt
Kết hợp khu vực giảng dạy và khu vực sinh hoạt, cùng tiến song hành, lấy khu vực sinh hoạt làm trận địa trọng điểm, bắt đầu từ từng chi tiết nhỏ trong đời sống hàng ngày của học sinh, tăng cường nghiên cứu chỉ dẫn hành vi thói quen.
(3) Kết hợp trong trường và ngoài trường
Nhà trường nên liên kết với xã hội, gia đình để cùng triển khai giáo dục học sinh. Đồng thời khai thác triệt để tài nguyên giáo dục môi trường và tăng cường nghiên cứu về phương diện giáo dục “tam kết hợp”.
(4) Nội hóa và Ngoại hóa
Huy động tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, làm nổi bật “vị thế chủ thể” của các em, thúc đẩy những thứ khách quan bên ngoài tự giác “nội hóa” thành những thứ chủ quan bên trong cá thể. Thông qua việc đẩy nhanh tiến trình nội hóa, cải thiện hiệu quả nội hóa, từ đó “ngoại hóa” thành thói quen hành vi tốt.
(5) Kết hợp dẫn dắt hành vi và sửa lỗi
Kiên trì chỉ dẫn chính diện, dẫn dắt học sinh tham gia với tư cách chủ thể. Xây dựng môi trường dẫn dắt hành vi đa dạng, để học sinh nhận được giáo dục từ những ví dụ cụ thể sinh động, từ đó nhận thức bản thân, quy phạm bản thân và hoàn thiện bản thân.
III. Phân tích kết quả điều tra
Phản hồi về thói quen hành vi của học sinh
Từ phản hồi của phiếu khảo sát học sinh có thể thấy, các vấn đề tập trung vào những khía cạnh sinh hoạt cơ bản nhất như lời nói, đi đứng, xả nước vệ sinh, và tình hình ở các khối lớp cũng khác nhau.
Dưới đây là dữ liệu thu được từ phân tích kết quả khảo sát học sinh.
Biểu đồ 9-1: Kết quả điều tra lễ nghi văn minh học sinh các khối lớp
Biểu đồ 9-2: Kết quả điều tra phương diện lời nói hành vi văn minh các khối lớp
Biểu đồ 9-3: Kết quả điều tra việc học sinh ăn uống trong yên lặng
Biểu đồ 9-4: Kết quả điều tra phương diện vệ sinh văn minh học sinh các khối lớp
Điều tra phát hiện, vấn đề hành vi của học sinh chủ yếu tập trung vào ba phương diện: nói năng, đi lại và xả nước vệ sinh. Các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen hành vi của các em bao gồm: sự nuông chiều của phụ huynh, chỉ coi trọng thành tích và phát triển năng khiếu mà bỏ qua việc định hình quy phạm hành vi, cho rằng thói quen hành vi không quan trọng; các yếu tố tiêu cực trong xã hội ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, khiến học sinh đang trong giai đoạn hình thành thói quen bị nhiễm thói xấu; một số sơ suất của giáo viên trong quá trình giáo dục dẫn dắt.
IV. Đề xuất “Ba học”
1. Văn minh lễ nghi —— Học nói chuyện
Người ta thường nói “lời nói là tiếng lòng”, “tâm ý biểu đạt qua lời nói”, “nghe lời nói biết con người”, những cụm từ này cho thấy ngôn ngữ phản ánh thái độ đối nhân xử thế và tu dưỡng học thức của một người. Ở trường, học sinh gặp giáo viên, khách hứa thường ngó lơ, hoặc không dám chủ động chào hỏi, nhưng trong lớp học lại thường xuyên la hét lớn tiếng, đặc biệt là học sinh khối lớp thấp, ở nơi công cộng không biết nói khẽ cười duyên, thường phát ra những tiếng hét chói tai gây ảnh hưởng đến người khác. Trên thế giới, khi đến nhà hàng ăn uống, những người gây ồn ào rất có thể là người Hoa. Do đó, việc triển khai huấn luyện ngôn ngữ văn minh và giáo dục lễ nghi nơi công cộng cho học sinh là rất cần thiết. Là mỗi công dân Trung Quốc, muốn thay đổi quan niệm truyền thống, biết tôn trọng người khác nơi công cộng thì cần bắt đầu từ khi còn nhỏ. Vì vậy, mục tiêu đức dục đầu tiên nhà trường đề ra là “Học nói chuyện”.
2. Văn minh hành vi —— Học đi lại
Ở trường, học sinh rượt đuổi đánh nhau trong hành lang, khuôn viên trường, chạy nhảy loạn xạ như chỗ không người. Sau giờ học, tòa nhà dạy học náo loạn như vạc dầu sôi, môi trường vô kỷ luật tất yếu dẫn đến hiểm họa an toàn.
Nhà trường luôn đặt vấn đề an toàn của học sinh lên hàng đầu, các thầy cô luôn nhắc nhở mọi lúc mọi nơi, trong đầu luôn căng thẳng dây đàn an toàn, không dám lơ là chút nào. Mắt luôn dõi theo từng cử động của học sinh, tan học là lập tức đến lớp, chú ý đến các hoạt động giờ giải lao, tinh thần căng thẳng tột độ khiến sau khi tan làm thường cảm thấy kiệt sức. Dù vậy, tai nạn an toàn vẫn xảy ra: Giờ giải lao, một học sinh đến văn phòng nộp bài tập, trên đường chạy nhanh về lớp, vì cửa nhà vệ sinh có nước mà tốc độ chạy quá nhanh không kịp dừng lại, chân trượt một cái ngã nhào xuống đất, còn làm tay bị thương. Nhìn biểu cảm đau đớn của học sinh đó, giáo viên chủ nhiệm Chu Nghệ vô cùng đau lòng, lập tức đưa em đến phòng y tế, may mắn là không gãy xương nhưng tay sưng to không thể làm bài tập.
Để bảo vệ an toàn cho học sinh tại trường, xây dựng môi trường nhân văn tốt đẹp, có trật tự, mục tiêu đức dục thứ hai nhà trường đề ra là “Học đi lại”.
3. Văn minh vệ sinh —— Tự giác xả nước vệ sinh
Nhà vệ sinh công cộng ở nước ta do việc dọn dẹp, tẩy rửa không kịp thời nên tỏa ra mùi hôi nồng nặc, đến mức chúng ta thường nghe người nước ngoài phàn nàn: Tìm nhà vệ sinh ở Trung Quốc không cần dùng mắt mà phải dùng mũi. Ở trường có rất nhiều học sinh không có thói quen xả nước sau khi đi vệ sinh.
Đến mùa hè, các lớp đều mở cửa sổ, nhưng cái lớp đối diện nhà vệ sinh nam lại đóng chặt cửa sổ hướng ra hành lang. Bởi vì nếu mở cửa sổ, mùi hôi từ nhà vệ sinh sẽ khiến các bạn đang ngồi học phải bịt mũi kêu trời.
Hành động xả nước tự thân nó rất đơn giản, môi trường nhà vệ sinh sau khi xả nước sẽ đem lại cảm giác thoải mái. Chỉ khi mọi người đều chú trọng tu dưỡng những việc nhỏ trong đời sống hàng ngày thì mới có thể tận hưởng cuộc sống tốt hơn. Tại Hội thảo xây dựng và quản lý nhà vệ sinh du lịch thế kỷ mới tổ chức cách đây không lâu, các chuyên gia đã kêu gọi: Toàn xã hội nên cùng nhau tăng cường xây dựng nhà vệ sinh du lịch.
“Học nói chuyện, học đi lại, học xả nước vệ sinh”, việc đề ra từng mục tiêu rõ ràng, cụ thể nhằm giáo dục thiếu nhi bắt đầu từ những việc nhỏ, vừa tiếp thu kiến thức vừa có được nguyên tắc đối nhân xử thế. Nội hàm của giáo dục đạo đức chính là khiến học sinh “thành nhân”, bồi dưỡng thành một công dân có thân tâm lành mạnh, phù hợp với quy phạm xã hội.
V. Phân rã mục tiêu “Ba học” để triển khai chuỗi hoạt động giáo dục
Là bộ phận giáo dục triển khai công tác đức dục lâu dài, chỉ dựa vào thuyết giáo suông chắc chắn không thể đạt được mục đích giáo dục. Để mục tiêu “Ba học” thực sự đi vào thực tiễn, dựa trên kết quả điều tra học sinh, nhà trường đã tổ chức cho các cán bộ đức dục chi tiết hóa và phân rã mục tiêu “Ba học”:
Học nói chuyện
Giáo dục học sinh học cách sử dụng từ ngữ lễ phép, gặp sư trưởng chủ động chào hỏi. Ở nơi công cộng phải nói khẽ, không gây ảnh hưởng đến người khác. Giáo viên chủ nhiệm Dương Hồng Mai đã liệt kê hai ví dụ cho thấy sự thay đổi của học sinh thông qua giáo dục “Ba học”.
Ví dụ 1:
Sau khi nhà trường triển khai hoạt động “Ba học”, nhiều phụ huynh phản ánh rằng mỗi ngày tan học về nhà con đều chủ động chào cha mẹ: “Thưa bố mẹ con mới về.” Trước khi đi học cũng chào: “Thưa bố mẹ con đi học ạ.”… Dù chỉ là một câu hỏi thăm hay chào tạm biệt đơn giản nhưng khiến cha mẹ cảm thấy con cái đã trở nên lễ phép, hiểu chuyện hơn, lòng phụ huynh vô cùng vui mừng.
Ví dụ 2:
Sau khi nhà trường triển khai hoạt động này, học sinh Vương Hạo đã có tiến bộ rõ rệt ở nhà. Từ chỗ trước đây là “cơm bưng nước rót”, việc gì cũng dựa vào cha mẹ chăm sóc, đến nay đã có thể tự giác giúp cha mẹ làm những việc nhà vừa sức. Như trước khi ăn giúp cha mẹ bày biện bàn ghế, bát đũa, bưng thức ăn, sau khi ăn chủ động rửa bát, quét nhà, dọn rác… còn chủ động gấp chăn màn, dọn phòng, giặt khăn tay, tất chân.
Việc hình thành thói quen tự lập này của học sinh cũng đạt được hiệu quả nhất định trong học tập. Vương Hạo hiện nay không chỉ có thể độc lập hoàn thành bài tập về nhà mỗi ngày mà sau khi làm xong còn biết tự kiểm tra kỹ lưỡng. Sau khi làm xong bài vở, em còn tự giác sắp xếp đồ dùng học tập sử dụng cho ngày đi học hôm sau.
Việc triển khai hoạt động này cũng có tác dụng thúc đẩy tốt đối với việc định hình quy phạm hành vi và thúc đẩy ngôn ngữ văn minh của học sinh. Hiện nay Vương Hạo cơ bản đã bỏ được thói xấu hay la hét ở nhà, giọng điệu cứng nhắc, thái độ ngang ngược. Em đã thực hiện khá tốt việc nói năng văn minh, thái độ ôn hòa với người nhà và hàng xóm. Ngoài ra còn có thể tự giác cùng các bạn khác chung tay duy trì vệ sinh môi trường trong khu dân cư, dùng hành động thực tế chứng minh hiệu quả tốt đẹp của hoạt động “Ba học” mà nhà trường triển khai.
Học đi lại
Giáo dục học sinh học cách đi lại trên sân chơi, hành lang, trong hành lang phải đi chậm nói khẽ, lên xuống cầu thang tự giác đi bên phải.
Để phối hợp với hoạt động giáo dục “Ba học”, nhằm đảm bảo an toàn cho học sinh, giáo viên chủ nhiệm Chu Nghệ đã kịp thời tổ chức tiết sinh hoạt lớp theo chủ đề. Thông qua các tiểu phẩm tự biên tự diễn của học sinh, mọi người nhận ra thiếu sót của mình và biết làm thế nào mới là đúng. Việc triển khai giáo dục thông qua hoạt động khiến học sinh ấn tượng sâu sắc hơn, dễ tạo ra sự đồng điệu về tâm lý, từ đó nhận được sự giáo dục tốt hơn.
Học xả nước vệ sinh
Hướng tới các vấn đề như học sinh sau khi vệ sinh không xả nước, vứt giấy vệ sinh bừa bãi, không đóng cửa khi đi vệ sinh, dùng lực đập hoặc đá cửa, không rửa tay sau khi vệ sinh… nhà trường kêu gọi học sinh biên soạn, giáo viên chỉ dẫn, đưa ra hơn mười câu nhắc nhở văn minh như: “Tôi cũng biết giữ vệ sinh, xin bạn hãy yêu quý tôi!”, “Đến nhẹ nhàng mở, đi lặng lẽ đóng.”, “Tôi xả nước, tôi văn minh!”, “Xin hãy giúp tôi (giấy vệ sinh) tìm thấy nhà!”, “Xin hãy dội nước cho tôi!” v.v. Sau khi thiết kế, hiệu đính và chế tác tinh mỹ, những câu nhắc nhở văn minh này được dán lên cửa nhà vệ sinh. Tuy nhiên, công tác đức dục không được lưu lại ở hình thức, phải có chỉ dẫn, có biện pháp, có giám sát, phải đưa công tác hàng ngày vào thực chất. Nhà trường quyết định tận dụng việc đặt ra các câu nhắc nhở văn minh này để tăng cường giáo dục học sinh, hoàn thiện chế độ trực tuần, tăng cường bồi dưỡng thói quen hành vi tốt cho học sinh. Đầu tiên là sử dụng loa phát thanh để kể những câu chuyện nhỏ về sự ra đời của các câu nhắc nhở, phân tích từng câu nhắc nhở, triển khai tuyên truyền bảo vệ câu nhắc nhở và duy trì vệ sinh nhà vệ sinh, đồng thời đi sâu vào các lớp trọng điểm để triển khai giáo dục kiên nhẫn. Tiếp theo là kịp thời giao tiếp với các giáo viên chủ nhiệm, nắm bắt tâm lý học sinh, thảo luận đối sách giáo dục. Các giáo viên ủng hộ nhiệt tình công tác của nhà trường, căn cứ vào các mục tiêu trường đề ra để phân tích tỉ mỉ, kiên trì giáo dục chỉ dẫn cho học sinh. Học sinh dần nhận ra những điểm chưa đúng trong hành vi của mình và nỗ lực sửa đổi. Có lớp chủ động dọn dẹp vệ sinh nhà vệ sinh; có lớp dán lại những tờ nhắc nhở bị xé rách; lại có lớp cử cán bộ lớp luân phiên quản lý vệ sinh nhà vệ sinh, nhắc nhở các bạn bồi dưỡng thói quen vệ sinh văn minh, để những câu nhắc nhở văn minh thấm sâu vào tâm trí. Toàn trường hình thành hợp lực giáo dục, thu được hiệu quả giáo dục tốt đẹp.
Ban chỉ huy Đội trường học nhằm tăng cường giáo dục văn minh, tuyên truyền phổ biến kiến thức lễ nghi văn minh, đã kiên trì tổ chức các buổi sinh hoạt toàn trường để tổng kết tình hình triển khai hoạt động của các lớp. Cô Từ Đan kêu gọi các lớp thông qua buổi chào cờ, tiết đạo đức và lối sống để giáo dục hành vi hàng ngày cho học sinh; đồng thời kết hợp với 《Điều lệ học sinh》, 《Quy phạm hành vi hàng ngày của học sinh tiểu học》, triển khai giáo dục đạo đức tư tưởng và giáo dục hình thành thói quen văn minh có tầng lớp, có mục tiêu, bắt đầu từ giáo dục quy phạm hành vi hàng ngày, khiến học sinh chuyển hóa từ “bắt tôi làm thế này” thành “tôi muốn làm thế này”, làm cho thói quen hành vi tốt nội hóa thành hành động tự giác, từng bước giúp học sinh hình thành thói quen hành vi đạo đức tốt.
Yêu cầu “Bốn nhiều hơn”
Trên nền tảng xây dựng quy phạm hành vi đạo đức học sinh “Ba học”, nhà trường lại đề ra yêu cầu “Bốn nhiều hơn”, tức là: chào thầy cô nhiều hơn một tiếng, đi nhẹ nói khẽ xuống lầu nhiều hơn một lần, chủ động xả nước vệ sinh nhiều hơn, cúi người nhặt một mảnh rác nhiều hơn. Nhà trường hướng vào chủ đề này đã tổ chức các hoạt động phong phú đa dạng, thông qua hoạt động nâng cao nhận thức đạo đức của học sinh, hình thành thói quen tốt, nỗ lực khiến giáo dục hình thành thói quen thấm sâu vào tâm hồn học sinh. Chuyên mục bình chọn “Bốn nhiều hơn” niêm yết công khai các kết quả thi đua của học sinh; chế tác các “thẻ đạt chuẩn” cho từng hạng mục của “Bốn nhiều hơn” dán vào bảng thi đua của các lớp; danh hiệu “Tập thể lớp xuất sắc” bình chọn hàng tuần giúp học sinh tăng cường lòng vinh dự tập thể; tận dụng loa phát thanh, truyền hình, bảng tin, sinh hoạt lớp và họp khối của trường để giáo dục “Bốn nhiều hơn” cho học sinh, trước tiên để học sinh biết nội dung và mục tiêu cụ thể là gì, từ đó quán triệt vào hành động thực tế, thông qua các hoạt động thực tiễn của học sinh để không ngừng quy phạm hành vi của mình, từ đó hình thành phong khí nhà trường tốt đẹp. Học kỳ này, nhà trường còn sưu tầm và giới thiệu bài vè “Bốn nhiều hơn” để học sinh ghi nhớ và truyền tụng, mỗi yêu cầu của “Bốn nhiều hơn” đều được thể hiện trong bài vè. Gần một năm qua, học sinh không chỉ tự hào về những thành tích đạt được trong văn minh ngôn ngữ, văn minh hành vi, văn minh vệ sinh… mà còn tự hào vì lời nói hành động của mình có thể ảnh hưởng đến gia đình và xã hội.
Tục ngữ có câu: “Không có quy củ, không thành vuông tròn.”, “Không học lễ, không lấy gì để lập thân.” Những kiến thức lễ nghi văn minh thiết yếu là tiền đề để mọi người bồi dưỡng thói quen hành vi lễ nghi văn minh tốt. Lễ nghi học thức của con người không phải sinh ra đã có mà là có được thông qua giáo dục và thực tiễn sau này. Hiện nay, nhận thức của học sinh tiểu học về kiến thức lễ nghi còn khá thiếu hụt, muốn thay đổi hiện trạng này phải bắt đầu từ việc tuyên truyền kiến thức lễ nghi văn minh. Do học sinh tiểu học tuổi còn nhỏ, năng lực nhận thức và thấu hiểu chưa mạnh, năng lực tư duy trừu tượng chưa phát triển đầy đủ, nên yêu cầu đối với các em cần rõ ràng, cụ thể, chi tiết, tăng cường tính khả thi. Như khi gặp người khác phải nói “Chào bạn”; khi chào tạm biệt nói “Hẹn gặp lại”; khi nhờ người khác giúp đỡ phải nói “Làm ơn/Xin”; khi nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ của người khác phải nói “Cảm ơn”; khi làm phiền hoặc có lỗi với người khác phải nói “Xin lỗi”, “Xin hãy tha lỗi”; khi người khác xin lỗi mình nên nói “Không có gì”…
Học sinh có tính uốn nắn cao, đồng thời rất dễ chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Giáo viên là đối tượng mô phỏng trực tiếp của học sinh, cũng là người chủ đạo giáo dục lễ nghi văn minh. Ngôn hành cử chỉ của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến học sinh, do đó giáo viên nên lấy mình làm gương, làm gương sáng cho học sinh. Giáo viên với tư cách là người giáo dục, không chỉ giáo dục học sinh trên lớp mà từng hành động cử chỉ trong đời sống hàng ngày cũng ảnh hưởng đến học sinh. Người xưa nói: “Dạy là bắt chước vậy. Trên làm sao, dưới làm vậy.” Lời nói hành động của giáo viên là thứ học sinh thích mô phỏng nhất, điều này đòi hỏi đông đảo giáo viên phải bắt đầu từ chính mình, thiết lập tấm gương tốt cho học sinh. Cần nhận thức đầy đủ rằng: “Thân mình chính, không ra lệnh người cũng làm; thân mình không chính, dù ra lệnh người cũng không theo.” Nhà văn nổi tiếng Băng Tâm từng nói: “Hiện tại của giáo viên chính là tương lai của học sinh.” Một giáo viên có nhân cách cao thượng phải có tinh thần tự luật nghiêm ngặt. Việc giáo viên yêu cầu học sinh làm được thì bản thân mình phải làm được trước. Phải biết rằng sức mạnh của tấm gương là vô hạn. Khi học sinh chào thầy cô, thầy cô cũng nên gật đầu hoặc vẫy tay chào lại học sinh; giáo viên làm sai chuyện phải dám xin lỗi học sinh. Những chi tiết nhỏ nhặt này thể hiện sự tôn trọng của giáo viên đối với học sinh, khiến học sinh được giáo dục một cách âm thầm.
Tố dưỡng văn minh là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá tố chất cá nhân, cũng là tiêu chuẩn cơ bản đánh giá tố chất tổng thể của một quốc gia. Do đó, đức dục không chỉ là việc định hình hành vi cá nhân mà còn quyết định trình độ tố chất của cả một quốc gia —— tức mức độ văn minh, thậm chí chế ước mức độ phát triển và triển vọng phát triển sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Bởi vì trước hết nó phản ánh trình độ giáo dục của quốc gia, mà bản thân giáo dục là nhân tố quan trọng cho sự tiến bộ quốc gia, giáo dục bồi dưỡng nhân tài cần thiết cho xây dựng đất nước. Vì vậy, nhà trường bám sát chủ đề giáo dục lễ nghi văn minh, nỗ lực thực hiện dạy chữ dạy người, phục vụ dạy người, văn hóa dạy người, môi trường dạy người, phong khí dạy người. Giáo dục học sinh thiết lập lý tưởng cao đẹp, lập chí thành tài; tận dụng phong khí trường, khẩu hiệu trường để dạy học sinh học cách làm người, học cách sinh tồn, học cách học tập, học cách thẩm mỹ, giáo dục học sinh đoàn kết hữu ái, giúp đỡ lẫn nhau; thông qua việc làm đẹp, làm sạch, xanh hóa khuôn viên trường, khiến học sinh được đặt mình trong môi trường sạch sẽ, thanh tân, ưu mỹ và đậm đà hơi thở văn hóa để được hun đúc, từ đó đạt được mục đích thanh lọc tâm hồn học sinh, nâng cao tố dưỡng văn minh.
Nội dung giáo dục “Ba học”
VI. Kết quả nghiên cứu và Phân tích nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Nhà trường làm tốt công tác giáo dục tu dưỡng từ những việc nhỏ nhặt của học sinh, tuyên truyền “Ba học”, đi sâu vào “Ba học”, đốc thúc kiểm tra “Ba học”, bình chọn “Ba học”, kiên trì không lơ là, xây dựng bầu không khí tốt đẹp trong trường, từ đó lan tỏa đến gia đình và xã hội. Dẫn dắt học sinh bồi dưỡng thói quen tốt, hình thành quy phạm hành vi đạo đức tốt. Hiện nay, học sinh trong trường đã thực hiện được ba văn minh là lễ nghi, lời nói hành động và vệ sinh.
Chuỗi hoạt động giáo dục “Ba học” đã triển khai được hơn ba năm, để tìm hiểu thực tế toàn diện về hiện trạng của học sinh, nhà trường lại phát phiếu khảo sát phụ huynh, giáo viên và học sinh để tiến hành điều tra.
Phản hồi đánh giá
Trong đợt điều tra mẫu lần này, phát ra 1800 phiếu khảo sát, thu hồi 1795 phiếu hợp lệ, kết quả thống kê như sau:
Có phụ huynh phản hồi: “Cảm ơn nhà trường đã tổ chức các hoạt động đức dục, đặc biệt là ‘Ba học’ có tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục trẻ bồi dưỡng thói quen hành vi tốt, hy vọng nhà trường có thể tổ chức nhiều hoạt động như thế này hơn nữa”; “Bắt đầu từ những chi tiết nhỏ, thực hiện nhu vật vô thanh”; “Hoạt động này đã thực sự chuyển đổi quan niệm của học sinh, hình thành tác phong tốt cho trẻ, hành vi của trẻ từ không tự giác chuyển sang tự giác”…
Đồng thời, có phụ huynh còn dựa trên tình hình cụ thể của con em mình đề xuất những kiến nghị thiết thực khả thi, nhà trường đã ghi chép lại và tiến hành phân tích cụ thể, chuẩn bị nâng cao tính nhắm đích và tính chỉ đạo trong công tác bước tiếp theo.
Phân tích nghiên cứu
Nhà trường đặt công tác đức dục lên hàng đầu, lấy đức dục đặt nền móng trưởng thành cho học sinh. Tổng hợp tình hình thực tế của nhà trường, xã hội và học sinh, nghiêm túc quán triệt thực hiện tinh thần công tác đức dục, kiện toàn hệ thống giáo dục đức dục, tính nhắm đích và thực hiệu trong công việc rất mạnh. Kiên trì dạy chữ dạy người, quản lý dạy người, phục vụ dạy người, môi trường dạy người; hình thành đặc sắc; hình thành cục diện công tác dạy người toàn viên, toàn trình, toàn phương vị. Trong công tác đức dục, nhà trường bám sát một tư tưởng chỉ đạo —— nhìn từ cái lớn, bắt đầu từ cái nhỏ, cái lớn nằm trong cái nhỏ, cái nhỏ chính là cái lớn; một hướng đức dục —— sát gần tư tưởng, đời sống và thực tế của học sinh. Căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi và năng lực nhận thức để học sinh hình thành thói quen hành vi tốt “lời nói có giáo huấn, hành động có khuôn phép”, để học sinh cảm thấy đức dục ở ngay bên cạnh các em, nằm trong đời sống hàng ngày, trong việc ngồi đứng đi lại, nói năng cử chỉ.
Suy nghĩ sâu sắc
Nhìn thấy những thay đổi đáng mừng của học sinh, nghĩ đến một bài báo mang tên 《Bàn về tính tự giác của người Thụy Sĩ》, tôi nhận được gợi ý rất lớn. Thụy Sĩ vốn nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên nhưng có thể trở thành một quốc gia kinh tế phát triển, dân phong thuần phác, thực sự tồn tại không ít nhân tố đáng suy ngẫm. Điều quan trọng nhất chính là tính tự giác của toàn dân Thụy Sĩ, so với Singapore, việc bảo vệ môi trường của Thụy Sĩ không dựa vào pháp trị mà dựa vào tính tự giác của chính người dân. So với họ, tính tự giác của người Trung Quốc chúng ta còn thiếu sót rất nhiều. Muốn một dân tộc có đạo đức tốt, chất lượng cuộc sống ưu tú, cần mọi người cùng hành động, dốc hết sức mình, sửa đổi từng thói quen hành vi không tốt của mỗi người. Việc bồi dưỡng thói quen hành vi của học sinh phải dựa vào sự dẫn dắt không ngừng của những người làm công tác giáo dục, xây dựng các nền tảng khác nhau, áp dụng các phương thức khác nhau, thông qua các kênh khác nhau để quy phạm hành vi của các em, khiến các em hình thành thói quen hành vi tốt, đặt nền móng cho cuộc đời. Đúng như một vị phụ huynh đã nói: “Việc triển khai hoạt động giáo dục ‘Ba học’ rất kịp thời và hiệu quả! Giúp trẻ xác định rõ quy phạm hành vi bắt đầu từ việc nhỏ, lấp đầy khoảng trống của giáo dục đức dục gia đình.”
Thông qua một chuỗi các hoạt động cụ thể của nhà trường, các giáo viên nhận thức sâu sắc rằng: không được từ bỏ việc bồi dưỡng quy phạm hành vi của học sinh, không được nới lỏng việc dẫn dắt định hướng giá trị hành vi đúng đắn cho học sinh, không được ngó lơ mỗi việc nhỏ trong học tập, đời sống của học sinh, phải thực sự làm được “chớ vì thiện nhỏ mà không làm”. Chính những việc nhỏ này giống như những bậc thang, nâng các em lên tầm cao của sinh mệnh. Đồng thời, nhà trường không chỉ yêu cầu học sinh thay đổi mà còn nỗ lực xây dựng cho học sinh một môi trường dạy người khỏe mạnh, hướng thượng, văn minh, tự nhiên! Vì vậy, sau khi thực hiện “Ba học”, căn cứ vào đặc điểm học sinh, nhà trường lại đề ra “Mười hình ảnh văn minh” của học sinh tiểu học ——
1. Chào cờ trang nghiêm
2. Chung sống lễ nghĩa
3. Nơi công cộng nhã nhặn
4. Hiếu kính cha mẹ tôn trọng sư trưởng
5. Đi xe mua sắm đúng lễ nghi
6. Đi lại tuân thủ luật lệ
7. Bảo vệ môi trường yêu quý quê hương
8. Giữ gìn của công tiết kiệm tài nguyên
9. Giao lưu quốc tế hữu hảo
10. Thân tâm khỏe mạnh là quan trọng nhất
VII. Thân giáo hơn ngôn giáo
Mặc dù chúng ta luôn giao lưu mọi lúc, học sinh cũng cần giao tiếp trong vòng kết nối cuộc sống của mình, nhưng do môi trường xã hội thay đổi, nhiều gia đình là con một, cha mẹ quá mức dung túng con cái, thiếu tính lý tính; quá mức nuông chiều, thiếu sự nghiêm khắc. Hầu như đứa trẻ nào cũng ít nhiều tồn tại tính bá đạo, kiêu kỳ và không phục, biểu hiện trong ngôn hành cử chỉ là không biết lễ độ, không biết nhường nhịn, không biết dùng từ ngữ văn minh, không biết những hành động thiếu văn minh sẽ gây tổn thương thế nào cho người khác. Làm thế nào để xoay chuyển tình trạng này, để học sinh nhận được sự giáo dục sâu sắc ngoài những bài giáo dục thuyết lý khô khan, đồng thời chỉ dẫn cho ngôn hành cử chỉ của các em?
Giáo viên chủ nhiệm cô Tô cho rằng: Một giáo viên ưu tú có thể giống như nam châm thu hút chặt chẽ học sinh, cái họ dựa vào chính là sức hút nhân cách của bản thân. Chính là “thân giáo hơn ngôn giáo”, giáo viên có ảnh hưởng âm thầm đến phẩm hạnh học sinh, bản thân người giáo dục chính là cuốn sách giáo khoa vô cùng quý giá, từ thế giới quan, nhân sinh quan lớn lao đến từng cử chỉ giơ tay nhấc chân, từng nụ cười cái liếc mắt nhỏ nhặt đều thẩm thấu trong toàn bộ hoạt động giáo dục. Nếu giáo viên có thể dùng phẩm chất nhân cách của mình thu hút học sinh, khiến học sinh chân thành khâm phục, thì công tác giáo dục của chúng ta đã tiến một bước lớn tới thành công. Giáo dục không có việc nhỏ, việc gì cũng dạy người. Do phẩm chất nhân cách của giáo viên thể hiện mọi lúc mọi nơi trong từng việc nhỏ, nên giáo viên nên tiên phong làm gương, dùng ngôn hành cử chỉ ưu tú của bản thân ảnh hưởng đến học sinh.
Học sinh đều rất quan tâm đến cách nhìn của giáo viên đối với mình, mong muốn lớn nhất là nhận được sự quan tâm và yêu mến của thầy cô. Khi giáo viên đối mặt với học sinh, đặc biệt là những học sinh dường như đầy rẫy khuyết điểm, nếu có thể cố gắng phát hiện ưu điểm của các em, sau đó chân thành và rộng rãi khen ngợi các em, sẽ khơi dậy niềm hy vọng và sự tự tin sâu thẳm trong lòng các em, khích lệ các em phấn đấu vươn lên. Một giáo viên ưu tú từng nói: Thắp đèn lồng tìm kiếm ưu điểm của học sinh, dùng kính hiển vi quan sát “điểm sáng” của các em, cố gắng hết sức cung cấp điều kiện để học sinh có cơ hội thể hiện bản thân, thì hiệu quả thu được chắc chắn sẽ là làm ít công nhiều.
Để triển khai giáo dục “Ba học” cho học sinh, phương pháp có rất nhiều, kể không xiết. Nhưng điều quan trọng nhất là phải tinh mắt nhìn ra và nắm bắt tất cả những việc nhỏ có khả năng trở thành điểm đột phá giáo dục làm cơ hội, xử lý bằng phương thức trí tuệ, khiến học sinh nảy sinh ý muốn tự giác phục tùng, tự giác tuân thủ và tích cực hướng thượng. Điều này hiệu quả hơn nhiều so với giáo dục thuyết phục đơn giản khô khan hay giáo dục phê bình nghiêm khắc nông cạn.
Tận tâm dạy bảo Thiết kế tỉ mỉ
Cô Đỗ Hiểu Mai trong quá trình triển khai giáo dục quy phạm hành vi “Học nói chuyện” từng gặp một chuyện như thế này:
Một buổi trưa nọ, các giáo viên trong văn phòng đang bận rộn với công việc trên tay. Bạn Tiểu Lượng trong lớp cô Đỗ hô báo cáo rồi bước vào. Em thấy các thầy cô đều đang bận nên nhẹ nhàng đi đến bên cạnh cô Đỗ, nói khẽ: “Thưa cô Đỗ, thầy Lý bảo em đến lấy chìa khóa máy chiếu giúp thầy ạ.” Sau khi lấy chìa khóa, em lại nhẹ nhàng bước ra khỏi văn phòng, lặng lẽ đóng cửa lại. Cô Đỗ nhìn theo bóng dáng đứa trẻ rời khỏi văn phòng, bỗng nhiên nảy ra một ý định. Tiết học đầu tiên buổi chiều là môn Đạo đức, để phối hợp với chuỗi hoạt động giáo dục “Ba học” của trường, mỗi tuần lớp sẽ bầu chọn một chiến sĩ văn minh nhỏ. Thế là, sau khi vào tiết, cô Đỗ đầu tiên bảo Tiểu Lượng kể lại tình hình ở văn phòng buổi trưa, sau đó để các bạn cùng lớp tiến hành đánh giá.
Học sinh trong lớp từng người một tranh nhau nói: “Con thấy bạn ấy vào văn phòng rất lễ phép, biết hô báo cáo trước.”
“Tiểu Lượng biết khi nói chuyện với cô Trương thì không làm phiền công việc của các thầy cô khác, ở văn phòng phải nói khẽ.”
“Thực ra, ngoài việc nói chuyện với thầy cô ở văn phòng phải nhỏ tiếng, khi gọi điện thoại cho phụ huynh ở văn phòng cũng phải chú ý, ví dụ phải nói rõ đồ gì chưa mang theo, thứ mấy cần dùng, hy vọng phụ huynh gửi đến lúc nào.”
Cô Đỗ lập tức nắm bắt cơ hội dẫn dắt: “Ai có thể nói xem, khi gọi điện thoại và nghe điện thoại còn cần chú ý những gì nữa nào?”
“Khi gọi điện thoại phải nhớ nói rõ mình là ai, tìm ai, có việc gì.”
“Khi gọi điện thoại nếu bạn không có nhà, nên nói rõ chuyện với chú hoặc dì nghe máy, nhờ họ nhắn lại.”
“Gọi xong điện thoại nhớ nói chào tạm biệt.”
“Khi gọi điện thoại còn phải chú ý thời gian, không được quá sớm cũng không được quá muộn, nếu không sẽ làm phiền người khác.”
…
“Vậy tốt rồi, chúng ta sẽ bắt đầu từ hôm nay, bắt đầu từ chính mình, chú ý hàm nghĩa của ‘Học nói chuyện’ không chỉ đơn thuần là lễ phép, mà còn nên cân nhắc các chi tiết khác. Ví dụ như độ lớn của âm lượng, độ dài của thời gian…” Từ ngày đó, cô Đỗ bắt đầu quan tâm đến thói quen nói chuyện hàng ngày của học sinh, bao gồm cả khi gọi điện thoại.
Từng có phóng viên điều tra ngẫu nhiên 30 học sinh (10 tiểu học, 10 trung học và 10 đại học). Mỗi người trong số họ đều có trải nghiệm gọi điện thoại hàng ngày. Họ đều cho rằng mình biết nghe gọi điện thoại, nhưng về việc gọi vào lúc nào, ai nên cúp máy trước thì đều không rõ. Nhiều người nói, thích gọi thì gọi, muốn nói gì thì nói, rất ít khi cân nhắc những hậu quả không tốt có thể xảy ra do nói không tốt trên điện thoại. Trong quá trình nghe gọi điện thoại, số người không biết sử dụng từ ngữ văn minh chiếm đa số. Trong số 30 học sinh phóng viên phỏng vấn, có tới 60% có cách nghe gọi điện thoại mô phỏng cha mẹ. Khoảng 30% học sinh nói thích mô phỏng phim ảnh truyền hình. Chưa đầy 10% học sinh nói thích ai thì mô phỏng người đó, ví dụ như bạn học, giáo viên hoặc một trưởng bối nào đó. Cả 30 người được phỏng vấn đều nói, trước đây chưa từng có ai chuyên môn chỉ dẫn họ nên nghe gọi điện thoại thế nào.
Thực tế, các chuyên gia cho rằng, ứng dụng ngôn ngữ khi nghe gọi điện thoại phản ánh rõ nhất tố chất đạo đức của một người. Càng là người thân mật càng nên cân nhắc phương thức nghe gọi cũng như từ ngữ và giọng điệu. Tuyệt đối đừng vì phương thức nghe gọi điện thoại không thỏa đáng mà làm tổn thương những người thân cận nhất.
Hiện nay, tất cả học sinh trong trường đều hiểu các yêu cầu lễ nghi khi gọi điện thoại:
1. Ban ngày thông thường nên gọi sau 8 giờ sáng, nhưng ngày lễ Tết nên gọi sau 9 giờ sáng; buổi tối thông thường nên gọi trước 22 giờ. Nếu không có tình huống đặc biệt, không nên gọi điện vào thời gian nghỉ trưa và ăn cơm, điều này thể hiện sự tôn trọng thói quen sinh hoạt của đối phương và người nhà. Trước khi gọi điện phải xác nhận lại số điện thoại của đối phương, chỉ dựa vào trí nhớ rất dễ gọi nhầm. Một khi gọi nhầm điện thoại nên bày tỏ sự xin lỗi với người nghe máy, nói câu “Xin lỗi, tôi gọi nhầm số” hoặc “Làm phiền bác/cô/chú rồi ạ” v.v. Sau khi kết nối điện thoại, thông thường trước tiên hỏi đối phương là ai, sau đó mới nói người cần tìm. Ví dụ nói: “Cháu chào bác! Xin hỏi bác có phải là bác mỗ mỗ không ạ? Bác có thể giúp cháu tìm bạn mỗ mỗ được không ạ?” chứ không nên nói đơn giản là “Cho tôi gặp mỗ mỗ.” Nếu đối phương hỏi tên bạn, thông thường nên cho đối phương biết, mà không được nói “Bác quản cháu là ai làm gì! Bác là ai thế?” Khi gọi điện thoại nếu người cần tìm không có nhà, nhất định phải sử dụng kính ngữ cầu khiến: “Làm ơn/Phiền bác giúp cháu tìm mỗ mỗ với ạ.” chứ không nên nói: “Alô! Cho tôi gặp mỗ mỗ.”
2. Sau khi chuông điện thoại reo, lập tức nghe máy, thông thường không nên quá 5 tiếng chuông. Nghe điện thoại nên nói trước: “Cháu chào bác, cháu là mỗ mỗ ạ. Xin hỏi bác tìm ai ạ?” Nghe điện thoại nên tập trung tinh thần, tạm dừng mọi chuyện phiếm, dừng ăn uống. Nếu đang xem tivi hoặc nghe đài nên vặn nhỏ âm lượng. Nếu không phải là người nhận điện thoại nên chủ động chuyển lời giúp. Nếu người cần tìm có nhà thì nói “Xin bác chờ một chút, cháu đi gọi bạn mỗ mỗ nghe máy ạ.” Nếu người cần tìm không có nhà, nên nói “Xin lỗi bác, bạn mỗ mỗ không có nhà, cháu có thể chuyển lời giúp bác được không ạ?” Nếu đối phương muốn chuyển lời, phải ghi chép chi tiết các thông tin cơ bản như số điện thoại, tên, đơn vị của đối phương, sau đó đọc lại một lần. Nếu đối phương không muốn chuyển lời thì không nên miễn cưỡng. Đừng tùy tiện cho người lạ biết số điện thoại của người khác.
3. Nên đợi đối phương cúp máy trước, đợi cấp trên hoặc trưởng bối cúp máy xong mình mới nhẹ nhàng đặt ống nghe xuống.
Người từ nhỏ đã học được cách nghe gọi điện thoại, khi lớn lên mới hiểu được cách chung sống và giao lưu với mọi người, mới có thể hình thành thói quen tốt để tôn trọng người khác.
Hơn hai ngàn năm trước, nhà tư tưởng lớn của nước ta là Lão Tử đã dùng ngôn ngữ tinh túy để trình bày kiến giải độc đáo của mình —— “Không tích bước nhỏ, không lấy gì để đi xa ngàn dặm; không tích dòng nhỏ, không lấy gì để thành sông biển.” Học sinh là những cá thể đang trưởng thành, học sinh là những cá thể độc đáo, học sinh là những con người có ý thức độc lập, học sinh còn là những sinh mệnh thể có sức sống vô hạn, vừa là điểm khởi đầu vừa là đích đến của giáo dục, cho nên giáo dục nên ấm áp, nên thấm vào lòng người, nhu vật vô thanh. Vì vậy, yêu thương học sinh, tôn trọng học sinh trong giáo dục, đối xử và thấu hiểu học sinh với thái độ bình đẳng, chỉ có như vậy mới có thể gảy lên “dây đàn” sinh mệnh của các em, giáo dục thực thi mới có thể tràn đầy sức sống rạng ngời.

Trước
Tiếp theo
Tăng cỡ chữ
Giảm cỡ chữ
Chế độ tối/sáng
Cấu hình font
Logo
TRUYỆN TRUNG QUỐC