Cùng Con Trưởng Thành: Trò Chuyện Với Phụ Huynh Về Giáo Dục Tiểu Học Và Trung Học
Chương 5: Các ví dụ thành công về hợp tác giữa nhà trường và gia đình
Danh sách chương
I. Các ví dụ về phụ huynh tham gia giáo dục nhà trường
Phụ huynh tham gia hoạt động trường học
Phối hợp phụ huynh tham gia các hoạt động của trường là hình thức cơ bản nhất trong hợp tác nhà trường – gia đình. Khác với một số trường chỉ để phụ huynh đóng vai trò “khán giả” và “thính giả”, trong ví dụ dưới đây, phụ huynh đóng vai trò là một bên hợp tác, chủ động tham gia hoạt động, cùng nhà trường phân công trách nhiệm, cùng nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục trẻ.
Thí nghiệm nhà trường và gia đình tay trong tay làm giảm mức độ béo phì ở trẻ nhỏ
Một trường mầm non nọ dựa vào sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình để triển khai thí nghiệm làm giảm mức độ béo phì ở trẻ. Quá trình thí nghiệm thực tế bao gồm liệu pháp vận động, liệu pháp ăn uống và liệu pháp hành vi có sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình.
1. Quá trình thí nghiệm liệu pháp vận động
Nguồn gốc hình thành béo phì là năng lượng nạp vào nhiều nhưng tiêu hao ít, nạp vào nhiều hơn tiêu hao, năng lượng dư thừa chuyển hóa thành chất béo tích tụ trong cơ thể, từ đó dần hình thành béo phì. Trẻ em từ ba đến sáu tuổi đang ở giai đoạn sinh trưởng và phát triển, dưới tiền đề đảm bảo nhu cầu phát triển của trẻ, việc kiểm soát ăn uống lượng vừa đủ có tác dụng nhất định trong việc phòng chống béo phì, mà rèn luyện thân thể chính là phương pháp tốt nhất để tiêu hao nhiệt lượng, phòng ngừa và làm giảm mức độ béo phì.
(1) Hoạt động do nhà trường chủ trì triển khai
1. Liệu pháp vận động với mục tiêu giảm vòng eo, vòng mông của trẻ béo phì. Các hạng mục hoạt động bao gồm chống tay xuống đất, nằm ngửa ngồi dậy, xoay bàn xoay, chơi vòng lắc, yêu cầu trẻ béo phì mỗi ngày ở trường phải thực hiện một lần nằm ngửa ngồi dậy (trên 10 cái) và chống tay xuống đất (20 cái).
2. Liệu pháp vận động với mục tiêu tăng chiều cao. Các hạng mục hoạt động bao gồm nhảy bóng, nhảy chạm tay, leo núi nhân tạo, nhảy đệm nhún. Yêu cầu mỗi ngày luân phiên thực hiện một trong các hạng mục đó.
3. Liệu pháp vận động với mục tiêu làm chậm tốc độ tăng trưởng béo phì. Các hạng mục hoạt động bao gồm chạy bộ chậm, leo cầu thang, đi giật lùi, tập thể dục giảm béo, đi xe đạp, nhảy đổi chân và tiến hành một số cuộc thi có ý nghĩa. Yêu cầu mỗi ngày ở trường phải tập xong bài thể dục giảm béo, các vận động còn lại triển khai luân phiên.
(2) Hướng dẫn phụ huynh triển khai hoạt động tại gia đình
1. Trò chơi thể thao thân tử: Lựa chọn các trò chơi thể thao thân tử phù hợp triển khai tại gia đình cho trẻ béo phì. Nội dung bao gồm chèo thuyền nhỏ, đạp guồng nước, nhảy chạm tay, xoay bàn xoay, v.v. Thực hiện mục đích phụ huynh phối hợp, tham gia, tăng cường hứng thú của trẻ béo phì đối với trò chơi.
2. Đại hội thể thao thân tử: Nhà trường tổ chức đại hội thể thao cho trẻ béo phì, đưa các trò chơi thể thao thân tử tiến hành tại gia đình ra giao lưu và thi đấu, tăng cường hứng thú rèn luyện.
3. Bài giảng đối thoại trực tiếp: Định kỳ mời chuyên gia bảo vệ sức khỏe trẻ em đến trường tổ chức các bài giảng nghiệp vụ và hướng dẫn có mục tiêu, đồng thời triển khai tư vấn, giải đáp cho phụ huynh về tác hại cũng như cách phòng ngừa béo phì ở trẻ nhỏ.
4. Hội thảo phân tích: Nhân viên hướng dẫn tạo ra tình huống và cơ hội nhất định, khuyến khích phụ huynh phát biểu quan điểm cá nhân về nguyên nhân phát sinh béo phì ở trẻ, cách phòng ngừa và liệu pháp, dẫn dắt phụ huynh suy nghĩ trong quá trình giao tiếp để hình thành đồng thuận. Hội thảo phân tích bao gồm quá trình giao lưu, tán đồng và thực hành.
(3) Hoạt động do nhà trường và gia đình cùng triển khai
Nhà trường và gia đình hiệp tác, xây dựng sổ liên lạc, khi áp dụng liệu pháp vận động cần suy nghĩ cụ thể các yếu tố sau.
1. Khi lựa chọn hạng mục vận động, cân nhắc các điểm sau:
(1) Phải suy nghĩ xem trẻ có thể tiếp nhận hạng mục vận động đó không, có thể kiên trì không, có hứng thú không.
(2) Phải suy nghĩ vấn đề an toàn, ví dụ như thể lực của trẻ, khả năng chịu đựng của chức năng tim phổi, thiết bị tại hiện trường môi trường có an toàn hay không.
(3) Phải suy nghĩ xem có thể thực hiện được mục tiêu dự kiến hay không, như cân nặng giảm xuống hoặc mức độ béo phì giảm xuống cũng như vòng eo vòng mông giảm xuống, v.v.
2. Khi chọn hạng mục vận động, chủ yếu là các vận động động năng cường độ thấp toàn thân với mục đích rèn luyện thể lực và sức bền toàn thân (còn gọi là vận động aerobic), như tản bộ, đi xe đạp, đi bộ nhanh bước nhỏ, chạy bộ chậm, leo dốc, lên xuống cầu thang, tập thể dục, vỗ bóng, v.v.
3. Khác biệt về cường độ vận động và thời gian tùy theo từng người. Trước mỗi lần rèn luyện phải tiến hành 5 phút hoạt động chuẩn bị toàn thân, sau khi kết thúc cũng nên tiến hành 5 phút hoạt động điều chỉnh (có thể hoạt động tự do). Trong quá trình rèn luyện, phụ huynh phải đồng hành cùng trẻ, không những có thể khuyến khích trẻ kiên trì rèn luyện, mà còn có thể quan sát biểu hiện chịu đựng của trẻ trong vận động. Thời gian vận động liên tục thường tăng dần từng ngày, nên tăng dần đến 20-30 phút, nhịp tim cao nhất của trẻ không nên quá 160 lần/phút.
2. Quá trình thí nghiệm liệu pháp ăn uống
(1) Về phía nhà trường: Làm tốt thực đơn định lượng, trên cơ sở đảm bảo nhu cầu sinh trưởng phát triển của trẻ béo phì, điều phối thực đơn, chủ yếu là các thực phẩm giàu chất xơ, giàu đạm, nhiệt lượng thấp, chất béo thấp. Cùng một loại thực phẩm thì thay đổi phương pháp nấu nướng, kiêng ăn thực phẩm chiên rán, chủ yếu là hấp thanh đạm và luộc trắng.
(2) Về phía gia đình: Xây dựng khung bữa tối và bữa ăn ngày nghỉ cuối tuần khoa học hợp lý, tuyên truyền phát tài liệu, thông báo cho phụ huynh phân loại các thực phẩm thường gặp theo hàm lượng calo thành thực phẩm đỏ, vàng, xanh.
3. Quá trình thí nghiệm liệu pháp hành vi
(1) Thiết kế biểu đồ “Con đã gầy đi”, mỗi tuần đo cân nặng cho trẻ một lần, bảo trẻ lớp lá và lớp chồi tự ghi chép vào biểu đồ, thông qua đo lường để trẻ biết cân nặng của mình và bạn bè, thông qua so sánh để thực hiện việc tự ý thức nỗ lực kiểm soát.
(2) Thiết kế mặt đồng hồ “Con đã có thể ăn chậm nhai kỹ”, mỗi ngày ghi chép thời gian dùng bữa (dùng cách vẽ kim giờ, kim phút để ghi lại), bảo trẻ lớp lá và lớp chồi tự vẽ thời gian dùng bữa vào biểu đồ, thông qua ghi chép để trẻ hiểu ăn cơm phải ăn chậm nhai kỹ, có ý thức kiểm soát tốc độ ăn (nhà trường và gia đình thực hiện đồng bộ).
Thí nghiệm chứng minh rằng, hướng dẫn phụ huynh, nhận được sự phối hợp đồng bộ của phụ huynh, để trẻ béo phì triển khai rèn luyện thân thể là mắt xích quan trọng không thể thiếu. Trong thí nghiệm phát hiện phụ huynh khá tán đồng liệu pháp vận động, mà trong cuộc sống có rất nhiều địa điểm, môi trường có thể vận dụng, đôi khi có thể sắp xếp cho trẻ một số việc nhà đơn giản một cách thích hợp. Thí nghiệm còn phát hiện trẻ được phụ huynh đồng hành cùng rèn luyện đạt được hiệu quả tốt hơn trẻ rèn luyện một mình.
Từ ví dụ này, chúng ta nhận thức rõ ràng rằng, vì sự trưởng thành khỏe mạnh của thanh thiếu niên, nhất định phải hình thành sự hợp tác giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình. Ngôi trường này đã xây dựng kế hoạch và mục tiêu tham gia của phụ huynh chi tiết, khả thi, trong quá trình phụ huynh tham gia hoạt động trường học, không những đạt được mục tiêu cùng nuôi dạy, mà còn giúp năng lực và trình độ giáo dục của phụ huynh nâng lên một tầm cao mới.
Phụ huynh tham gia giáo dục nhà trường
Đối mặt với sự xung kích của các loại ảnh hưởng xấu từ xã hội đối với trẻ em, giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường đều đối mặt với những khó khăn và thách thức chưa từng có. Do đó, cả hai bên đều cảm thấy sự thiếu hụt của mô hình hợp tác trường – nhà truyền thống, cần phải đổi mới. Vì vậy, một trường trung học trong thành phố cùng các bên liên quan sau khi nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng, đã quyết định tiến hành một thử nghiệm mang tính đột phá về mô hình hợp tác trường – nhà: Tổ chức một diễn đàn phụ huynh về chủ đề “Làm thế nào ứng phó với ảnh hưởng tiêu cực của các hiện tượng xã hội đối với học sinh”. Dựa vào việc nâng cao tính chủ thể của phụ huynh trong hợp tác trường – nhà để nâng cao tính hiệu quả của sự hợp tác này.
Thử nghiệm nâng cao tính chủ thể của phụ huynh —— Diễn đàn phụ huynh
1. Giới thiệu diễn đàn
Chủ đề diễn đàn: “Làm thế nào ứng phó với ảnh hưởng xấu của các hiện tượng tiêu cực xã hội đối với học sinh”
Thời gian: 3 giờ đến 5 giờ 30 phút chiều ngày 24 tháng 10 năm 2003
Địa điểm: Hội trường trường trung học
Đơn vị tổ chức: Ủy ban Công tác chăm sóc thế hệ trẻ thuộc Cục Giáo dục, Hội Nghiên cứu Đức dục trường trung học, Hội Thúc đẩy giáo dục gia đình quận, Cục Giáo dục quận
Đơn vị thực hiện: Trường Trung học Thực nghiệm thành phố
Thành phần tham dự: Đại diện phụ huynh trường thực nghiệm thành phố, một số lãnh đạo và giáo viên của trường, Phó Quận trưởng chính quyền quận, Cục Giáo dục thành phố, Hội Liên hiệp Phụ nữ quận, lãnh đạo các bộ phận liên quan của Cục Giáo dục quận, Hiệu trưởng và Chủ nhiệm phụ trách công tác đức dục của các trường trung học, các chuyên gia giáo dục gia đình được mời đặc biệt, v.v., tổng cộng hơn 200 người.
Hình thức vận hành: Dưới sự gợi mở của người dẫn chương trình, phụ huynh tự do thảo luận, chuyên gia xen vào những phản hồi và giải đáp ngắn gọn, Phó Cục trưởng Cục Giáo dục quận phát biểu kết thúc mang tính bày tỏ thái độ, không đưa ra kết luận.
2. Tóm tắt nội dung phát biểu chính của phụ huynh
(1) Phụ huynh A
Cùng với việc mạng internet ngày càng đi sâu vào đời sống, phạm vi kết bạn của trẻ theo đó mà mở rộng. Làm thế nào ngăn chặn các em kết giao “bạn xấu” trên mạng là việc cấp bách cần sự chú ý của xã hội, nhà trường và phụ huynh. Vì vậy, tôi đưa ra các kiến nghị sau: Các bộ phận hữu quan của chính phủ nên áp dụng biện pháp đắc lực, ngăn chặn các quán internet trở thành môi trường hoạt động cho các hành vi xấu như cờ bạc, uống rượu, hút thuốc, hút chích của học sinh trung tiểu học. Xây dựng chế độ hợp tác giữa cộng đồng, nhà trường và bộ phận công an. Quản lý môi trường trị an khu vực xung quanh trường học. Ra sức trấn áp các hoạt động vi phạm tội phạm như đánh nhau tập thể, cướp giật, tống tiền. Trấn áp sâu rộng các băng nhóm mang tính chất xã hội đen, loại bỏ bóng ma bạo lực học đường. Chính phủ còn nên thông qua các thủ đoạn hành chính, pháp luật, kỹ thuật để tăng cường quản lý mạng, quy phạm vận hành mạng, và ứng dụng hệ thống kỹ thuật tiên tiến. Nhà trường, gia đình cũng nên thực hiện và tăng cường giáo dục pháp chế cho thanh thiếu niên, đề phòng mạng internet trở thành công cụ phạm tội của các em.
(2) Phụ huynh B
Tăng cường xây dựng đức dục cho học sinh trung tiểu học là trọng điểm trong giáo dục toàn diện cho học sinh, nhất định phải huy động gia đình, nhà trường, xã hội tiến hành công tác sâu sát tỉ mỉ nhắm vào giáo dục tư tưởng chính trị và giáo dục phẩm chất đạo đức của học sinh.
Học sinh trung tiểu học chịu ảnh hưởng xấu từ xã hội chủ yếu đến từ các nguồn: Một là sách báo, truyện tranh, tạp chí, báo chí không lành mạnh; hai là quán internet, vũ trường, phòng game, hộp đêm; ba là một số phim ảnh, đĩa hình, băng hình; bốn là các hiện tượng vàng (đồi trụy), cờ bạc, ma túy; năm là các thế lực băng nhóm có tính chất xã hội đen. Có thể khẳng định, năm phương diện ảnh hưởng này đều tồn tại sự gây hại thực tế ở các mức độ khác nhau đối với học sinh.
Việc xây dựng đức dục cho học sinh không chỉ là trách nhiệm của nhà trường, mà còn là trách nhiệm của xã hội và gia đình, huy động mọi lực lượng tăng cường xây dựng đức dục cho học sinh là một công tác có ý nghĩa lâu dài.
(3) — (7) (Phát biểu của phụ huynh C, D, E, F, G lược bỏ)
(8) Các phụ huynh khác (Phát biểu, nói xen nhiều lần, nội dung cụ thể lược bỏ)
3. Phát biểu của chuyên gia
Ngoài việc phản hồi một số vấn đề của phụ huynh, giải đáp một số nghi vấn, còn tập trung luận thuật vào hai vấn đề: Một là mạng internet là công cụ học tập và giao lưu không thể thiếu trong xã hội ngày nay, việc đơn giản cấm trẻ lên mạng là hành vi không khôn ngoan. Phụ huynh nên tăng cường năng lực phân biệt thị phi cho trẻ, nâng cao khả năng tự kiểm soát, dẫn dắt trẻ bồi dưỡng sở thích có ích, để trẻ có thể chủ động chống lại ảnh hưởng xấu của xã hội. Phụ huynh nên kịp thời giao lưu, hiệp tác với nhà trường, trao cho phụ huynh nhiều tính chủ động và tự chủ hơn. Hai là phải thúc đẩy sự hình thành của gia đình kiểu học tập, mỗi thành viên trong gia đình đều nên tự giác học tập, tạo cơ hội để các thành viên cùng học tập, gia đình phải tạo ra bầu không khí bình đẳng dân chủ, phụ huynh phải học cách tìm hiểu, học cách thấu hiểu, học cách dẫn dắt, học cách đối thoại bình đẳng, học cách tôn trọng, để các thành viên gia đình có thể học hỏi lẫn nhau.
Diễn đàn trải qua hơn hai giờ đồng hồ phát biểu sôi nổi, không khí vô cùng nhiệt liệt. Trong thời gian đó, những người tham dự đã giới thiệu nhiều kinh nghiệm và ca lâm sàng giáo dục gia đình thành công; một vị phụ huynh nêu ra vấn đề chức năng của người cha trong giáo dục gia đình hiện nay đang bị suy yếu, gây ra sự đồng cảm của các phụ nữ tham dự và làm dấy lên cuộc thảo luận khốc liệt.
4. Lời kết thúc của lãnh đạo
Chủ yếu là những cảm nghĩ cá nhân và bày tỏ sự ủng hộ đối với hình thức “Diễn đàn phụ huynh” này, chứ không phải là bản “tổng kết” theo thói quen.
“Diễn đàn phụ huynh mang tính chuyên đề” là thử nghiệm cực kỳ có ích để nâng cao trình độ giáo dục gia đình, so với mô hình hiệp tác trường – nhà truyền thống, nó có sự đột phá rõ rệt.
· Trong hợp tác nhà trường – gia đình, đã hình thành lại địa vị “chủ thể” của phụ huynh
Trong các mô hình hợp tác trường – nhà trước đây, phụ huynh đa số là “khách thể” tiếp nhận thụ động, thuộc địa vị phụ thuộc thụ động; nhưng trong diễn đàn này, phụ huynh là nhân vật chính của toàn bộ quá trình: Phụ huynh tự chủ phát biểu, tự chủ đặt câu hỏi nghi vấn, tự chủ đáp câu hỏi giải nghi. Phát biểu của phụ huynh cũng không phải là thụ động tìm hiểu và giới thiệu tình hình của con em mình, mà là tự chủ nhắm vào vấn đề để thực hiện phân tích, chủ động đưa ra kiến nghị và sách lược giải quyết vấn đề.
· Hình thức diễn đàn có lợi cho việc tạo dựng và phát huy tính chủ thể
Trong mô hình hợp tác trường – nhà, đưa vào hình thức “diễn đàn” có ích cho việc tạo dựng và phát huy tính chủ thể, có ích cho việc tìm tòi luồng suy nghĩ và tham khảo kinh nghiệm của cả hai bên nhà trường và phụ huynh.
· Diễn đàn mang tính chuyên đề có ích cho việc thực hiện thảo luận sâu và giải quyết các vấn đề quan trọng
Trong thời kỳ xã hội chuyển đổi kịch liệt, sự va chạm giữa thể chế mới cũ và quan niệm mới cũ nhất định sẽ khốc liệt, vấn đề nhiều và sự phát triển biến hóa nhanh thường khiến người ta không kịp nhìn, càng không phải ai cũng có thể thấu hiểu sâu sắc và nắm bắt chính xác. Đối với nhiều vấn đề quan trọng trong đó, dùng hình thức diễn đàn chuyên đề để thảo luận nghiên cứu có thể thu hút sự chú ý và coi trọng của các bên hữu quan, cũng có ích cho các thành viên trong nhóm hiểu biết toàn diện, thấu hiểu sâu sắc, nắm bắt chính xác và chọn tốt đối sách cho vấn đề này, có ích cho việc giải quyết vấn đề.
Cuộc diễn đàn phụ huynh chuyên đề lần này là lần đầu tiên tại thành phố này, từ hình thức đến hiệu quả đều là một sự đột phá cực kỳ có ích; lấy phụ huynh làm chủ thể hoạt động, thay đổi cục diện thụ động của phụ huynh trong hoạt động là mục tiêu của diễn đàn lần này. Từ phát biểu của nhiều phụ huynh chúng ta có thể thấy, tăng cường tính chủ thể của phụ huynh không chỉ cần thiết mà còn có khả năng. Sự tham gia tích cực cũng như việc phát huy tinh thần chủ động của phụ huynh đã tạo ra luồng suy nghĩ và phương pháp mới cho sự hợp tác bình đẳng giữa gia đình và nhà trường, xứng đáng để tham khảo và vận dụng trong thực tiễn.
Phụ huynh tham gia nghiên cứu khoa học của nhà trường
Trong thực tiễn, một số trường dựa vào sức mạnh của phụ huynh, để phụ huynh tham gia vào nghiên cứu khoa học của trường, không những phát huy được tiềm năng của phụ huynh mà còn nâng cao tố chất của họ, thu được hiệu quả khá tốt. Ví dụ dưới đây có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho mọi người.
Bố cục mạng lưới nhất thể hóa đức dục nhà trường, gia đình, xã hội
Xây dựng hệ thống mạng lưới nhất thể hóa đức dục nhà trường, gia đình, xã hội, các kinh nghiệm và biện pháp chính gồm:
1. Thành lập một tổ chức Ủy ban Giáo dục xã hội có thể mô phỏng và thao tác
Thực thể này thực hiện chức năng tổ chức dưới hình thức hội đồng. Thành viên chủ yếu bao gồm đại diện của chính quyền cấp xã trấn, các đơn vị doanh nghiệp cộng đồng, bộ phận hành chính giáo dục, ủy ban dân cư (thôn) nơi gia đình học sinh cư trú và nhà trường, v.v., tạo thành một hệ thống mạng lưới nhất thể hóa đức dục có thứ tự tầng nấc, kiện toàn, thông tin ý kiến và phối hợp hợp tác.
2. Xây dựng mục tiêu nhất thể hóa đức dục, hình thành hệ thống mạng lưới đức dục và trình tự công tác đức dục
Mục tiêu chung của nhất thể hóa đức dục là: Dựa vào sự liên hệ chung, hợp tác chung, thúc đẩy chung giữa nhà trường, gia đình và xã hội, hình thành hệ thống đại đức dục “ba vị nhất thể” có sự giao lưu trong ngoài trường, mục tiêu và phương hướng bên trong bên ngoài đồng nhất, xây dựng cơ chế động lực đức dục đa nguyên hóa, đa kênh, xúc tác sự phát triển lành mạnh về tư tưởng phẩm đức của học sinh.
Mục tiêu phân định của nhất thể hóa đức dục là: (1) Mục tiêu chung. Kiên trì phương hướng mục tiêu phát triển tổng thể do cả ba bên nhà trường, gia đình và xã hội đưa ra, khiến cả ba hình thành một chỉnh thể hữu cơ, cùng nhắm vào một mục tiêu để thực hiện giáo dục đồng bộ. (2) Phát huy ưu thế. Cố gắng phát huy tác dụng chức năng giáo dục của mỗi bên nhà trường, gia đình và xã hội, lấy dài bù ngắn, tụ thành hợp lực. (3) Điều hòa quan hệ. Xây dựng kênh liên lạc giữa nhà trường, gia đình và xã hội, xây dựng tổ chức mạng lưới giáo dục, kịp thời tiến hành phản hồi thông tin. (4) Phục vụ hai chiều. Nhà trường cùng gia đình, cộng đồng và các đơn vị tổ chức khai thác ưu thế của mỗi bên, tùy nghi di tản thực hiện phục vụ hai chiều.
Quan hệ giữa bốn mục tiêu phân định này là: Mục tiêu chung là nền tảng, phát huy ưu thế là then chốt, điều hòa quan hệ là điều kiện, phục vụ hai chiều là bảo đảm.
Hệ thống mạng lưới đức dục do ba phương diện mạng lưới giáo dục nhà trường, mạng lưới giáo dục gia đình và mạng lưới giáo dục xã hội hợp thành, như hình dưới đây.
Mạng lưới nhà trường: Nhóm hướng dẫn đức dục nhà trường; Nhóm đức dục khối lớp, lớp học; Nhóm nghiên cứu đức dục giáo viên bộ môn lớp.
Mạng lưới gia đình: Ban đại diện cha mẹ học sinh; Trường học phụ huynh; Tổ hỗ trợ giáo dục gia đình.
Mạng lưới xã hội: Nhóm giáo dục ủy ban dân cư (thôn); Đội ngũ phụ trách ngoài giờ; Nhóm hướng dẫn thực hành xã hội.
Hình 8-1 Mạng lưới nhất thể hóa đức dục
Trình tự công tác đức dục do ba bộ phận trình tự giáo dục nhà trường, trình tự giáo dục gia đình và trình tự giáo dục xã hội hợp thành, như hình dưới đây.
Trình tự nhà trường: Trình tự đức dục môn tư tưởng chính trị phẩm đức; Trình tự đức dục dạy học các môn học; Trình tự đức dục khối lớp, ban đội.
Trình tự gia đình: Các điểm chính hướng dẫn giáo dục gia đình; Trách nhiệm chính của phụ huynh.
Trình tự xã hội: Các điểm chính hướng dẫn giáo dục xã hội; Trách nhiệm chính của nhóm xã hội.
Hình 8-2 Trình tự công tác nhất thể hóa đức dục
3. Dưới Ủy ban Giáo dục xã hội thiết lập ba nhóm lớn là quản lý, giảng dạy và đức dục, tiến hành quản lý nhà trường một cách toàn diện, xúc tác cải cách chỉnh thể giáo dục nhà trường.
Việc đưa giáo dục tư tưởng phẩm đức “ba vị nhất thể” nhà trường, gia đình và xã hội vào mạng lưới lớn của xây dựng văn minh tinh thần xã hội toàn cộng đồng để phát triển có ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Sự đồng nhất cao độ về phương hướng đức dục của nhà trường, gia đình và xã hội, hấp thụ các yếu tố giáo dục có ích trong xã hội mở, tìm tòi mô hình đức dục mới dưới tiền đề quan niệm đại giáo dục, có thể thể hiện đầy đủ chức năng chỉnh thể của đức dục. Việc đưa ra lý luận nhất thể hóa đức dục và sự hình thành hệ thống mạng lưới đã tạo ra nền tảng cho sự hình thành cục diện đức dục mới ở trung tiểu học, cung cấp bảo đảm cho sự trưởng thành khỏe mạnh của thanh thiếu niên nhi đồng, cũng khiến hợp tác trường – nhà được thâm nhập thêm một bước về cả lý luận và thực tiễn.
II. Các ví dụ nhà trường triển khai giáo dục phụ huynh
Phụ huynh tiếp nhận giáo dục trong các hoạt động của trường
Giáo dục phụ huynh là một phương diện quan trọng khác trong hợp tác trường – nhà, để tăng cường tố chất giáo dục của phụ huynh, không ít trường dựa vào các kênh và phương pháp khác nhau để thử nghiệm và tìm tòi. Trường học trong ví dụ dưới đây đã thực hiện tìm tòi trong vài năm nhắm vào mô hình hợp tác trường – nhà “lấy trường làm gốc” —— giáo dục phụ huynh, và đã thu được nhiều kinh nghiệm.
Mô hình hợp tác trường – nhà “lấy trường làm gốc”
1. Quy phạm quản lý, hoàn thiện chế độ
Xây dựng và hoàn thiện quy chương chế độ trường học phụ huynh là căn bản để vận hành tốt trường học. Chúng tôi đưa công tác trường học phụ huynh vào lịch trình công tác dạy học giáo dục của nhà trường, thành lập ban lãnh đạo công tác trường học phụ huynh và ban đại diện cha mẹ học sinh. Mỗi khi bắt đầu năm học, ban lãnh đạo trường học phụ huynh họp lệ tìm tòi con đường cụ thể để tiến hành các hoạt động trong một học kỳ, xây dựng kế hoạch công tác và kế hoạch giảng dạy. Phụ huynh được vào sổ phân lớp tại trường, giáo viên quản lý chịu trách nhiệm đến nơi đến chốn.
(1) Xây dựng chế độ
Xây dựng quy chương chế độ là căn cứ cơ bản để vận hành trường. Chúng tôi lấy thực tế công tác làm điểm xuất phát, xây dựng và hoàn thiện “Chế độ quản lý học tịch trường học phụ huynh” và “Chế độ bình chọn phụ huynh năm tốt”, v.v., in phát “Quy phạm hành vi giáo dục gia đình”, đồng thời nghiêm túc quán triệt thực hiện và kiểm tra bình chọn.
(2) Nắm chắc quá trình
Trong công tác chúng tôi chú trọng quản lý quá trình, cố gắng làm thực, làm tốt mỗi một mắt xích. Mỗi học kỳ chúng tôi đều thực hiện khảo hạch sư đức, phát phiếu khảo sát cho đông đảo phụ huynh. Để tăng cường liên hệ trường – nhà, chúng tôi sáng tạo ra “hai sổ” “hai hòm”, tức là “Sổ ghi chép thăm hỏi gia đình”, “Sổ liên lạc trường – nhà” và “Hòm thư hiệu trưởng”, “Hòm thư tâm tình”. Một mặt để nhà trường kịp thời tìm hiểu nhu cầu và khúc mắc của phụ huynh, học sinh; mặt khác, phụ huynh, học sinh có thể thông qua hòm thư tự do đưa ra các ý kiến và kiến nghị đối với quản lý xây dựng trường, dạy và học, chủ động tham gia giáo dục, từ đó làm mật thiết hơn nữa quan hệ hợp tác giữa nhà trường và gia đình.
2. Tính mục tiêu của nội dung tập huấn
Hợp tác trường – nhà không có mô hình cố định để noi theo. Đặc điểm của từng trường, văn hóa của phụ huynh, tố chất giáo dục và thái độ đối với con cái cùng nhiều yếu tố khác quyết định sự hợp tác trường – nhà có sự khác biệt tùy theo trường. Chúng tôi áp dụng mô hình hợp tác trường – nhà “lấy trường làm gốc”, hướng tới các học viên phụ huynh khác nhau, tiến hành điều tra nghiên cứu sâu sắc đối với các vấn đề nóng, điểm khó trong giáo dục gia đình, xây dựng kế hoạch giảng dạy thực dụng, dạy học theo năng lực. Cụ thể chia việc học thành bốn loại.
(1) Tập huấn toàn viên
Nhà trường áp dụng hình thức đại hội qua loa truyền thanh hoặc lợi dụng giảng dạy đa phương tiện, mỗi học kỳ tổ chức ít nhất hai lần trở lên các bài giảng kiến thức giáo dục gia đình, cố gắng để nội dung tập huấn có tính mục tiêu mạnh, hình thức đa dạng.
(2) Tập huấn chuyên đề
Nhắm vào một vấn đề cụ thể nào đó trong giáo dục gia đình để thực hiện hướng dẫn tập huấn. Như khi học sinh mới lớp một nhập trường, giới thiệu cho phụ huynh “Làm thế nào để học sinh mới lớp một thích ứng với cuộc sống ở trường”, “Bồi dưỡng thói quen hàng ngày của trẻ”, giảng giải cho các học viên phụ huynh có trình độ văn hóa không cao về “Gia đình hướng dẫn trẻ học tập như thế nào”, v.v.
(3) Tập huấn bổ trợ
Để thực sự tăng cường liên hệ trường – nhà, ấn định ngày thứ Năm của tuần cuối cùng mỗi tháng là “Ngày tiếp phụ huynh”, thiết lập nền tảng có lợi cho liên hệ trường – nhà đa phương thức, đa nguyên hóa.
(4) Tập huấn tự lực
Dựa theo tình hình thực tế của học viên phụ huynh, khuyến khích và dẫn dắt học viên tự học. Để thuận tiện cho tự học, đặt mua cho học viên các ấn phẩm loại giáo dục gia đình như “Giáo dục gia đình”, “Triển lãm giáo dục gia đình”, v.v., để phụ huynh có thể hấp thụ kiến thức và thông tin về phương diện giáo dục gia đình từ nhiều mặt.
3. Thông suốt kênh giao tiếp trường – nhà
Giao tiếp thẳng thắn và chân thành giữa trường và nhà là đá tảng của quan hệ hợp tác trường – nhà tốt đẹp. Các phương thức giao lưu hợp tác trường – nhà của chúng tôi gồm những loại sau.
(1) Ngày mở cửa giảng dạy
Nhà trường xác định mỗi tháng một lần “Ngày mở cửa giảng dạy”. Phụ huynh có thể trong ngày này tùy thời nghe bất kỳ tiết dạy của giáo viên nào, tự do lật xem sổ soạn bài của giáo viên và vở bài tập của học sinh, v.v., mục đích là để phụ huynh đồng bộ với hoạt động dạy và học của nhà trường, khiến mục tiêu giáo dục thống nhất thêm một bước.
(2) Ngày phụ huynh thăm trường
Từ tháng 9 năm 2001 bắt đầu thực hiện “Ngày thăm trường” của phụ huynh. Cách làm cụ thể là: Xác định ngày thứ Năm cuối cùng của mỗi tháng là ngày thăm trường, và thông báo cho toàn thể phụ huynh. Trong ngày thăm trường, toàn bộ các giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn liên quan của toàn trường đều tiếp đón phụ huynh đến thăm tại phòng học của lớp mình giảng dạy.
(3) “Sổ liên lạc trường – nhà”
Đầu học kỳ phát cho mỗi học sinh một cuốn “Sổ liên lạc trường – nhà” và “Sổ tay trưởng thành của học sinh”, do giáo viên chủ nhiệm mỗi ngày phụ trách điền biểu hiện của học sinh đó tại trường, phản hồi tình hình trong ngày cho phụ huynh, phụ huynh trong cột kiến nghị sẽ phản hồi lại thông tin và yêu cầu cho nhà trường.
(4) Bài giảng nhỏ của phụ huynh
Phụ huynh có các nghề nghiệp, sở thích, trường hợp đặc biệt, trải nghiệm khác nhau, v.v., đây là một tài nguyên giáo dục đặc biệt hữu dụng. Để tăng cường hứng thú của học sinh, hỗ trợ giảng dạy trên lớp và làm phong phú hoạt động ngoại khóa, chúng tôi triển khai các bài giảng nhỏ của phụ huynh, tức là mời những phụ huynh có chuyên môn đặc thù trong một lĩnh vực nào đó vào lớp giảng bài cho các em. Hình thức bài giảng đa dạng, nội dung phong phú, giúp học sinh tiểu học học được những kiến thức không có trong sách vở.
(5) Hoạt động thân tử
Lý luận khoa học và chế độ hoàn thiện không thể tách rời các hoạt động sống động đa sắc màu. Do đó, lợi dụng ngày lễ tết triển khai các hoạt động theo chuỗi là một nền tảng hiệu quả. Như triển khai “Cuộc thi vẽ tranh gia đình vui vẻ”, “Cùng hát một bài ca”, v.v., tăng cường sự tương tác mật thiết giữa nhà trường và phụ huynh.
4. Đi sâu vào nghiên cứu khoa học, thúc đẩy hợp tác trường – nhà
Tăng cường tính khoa học của giáo dục gia đình là điều kiện bảo đảm chất lượng vận hành của trường học phụ huynh. Chúng tôi nhắm vào các vấn đề khó và nóng của giáo dục gia đình, triển khai điều tra xã hội sâu sát và tiến hành nghiên cứu lý luận, dựa vào các hình thức như “Phiếu điều tra quan niệm giáo dục gia đình”, “Tự đo sức khỏe tâm lý học sinh tiểu học” để đào sâu nghiên cứu điều tra, từ đó phát hiện một bộ phận phụ huynh thiếu ý thức tham gia giáo dục nhà trường. Có những cha mẹ đẩy toàn bộ trách nhiệm giáo dục con cái cho nhà trường, buông lỏng giáo dục gia đình đối với trẻ. Những phụ huynh mang tư tưởng này thường không nhiệt tình tham gia vào việc giáo dục con mình, ngược lại họ còn coi việc phụ huynh tham gia là biểu hiện của việc nhà trường thoái thác trách nhiệm. Hơn nữa, còn có một bộ phận rất lớn phụ huynh chỉ quan tâm đến thành tích học tập của con em, về trí dục có thể phối hợp với nhà trường thúc giục trẻ làm bài tập, nhưng ở các mặt khác thì làm chưa đủ, có người nuông chiều con cái quá mức, có người lại quá nghiêm khắc thô bạo với trẻ, từ đó bước vào cực đoan dẫn đến giáo dục gia đình thất bại. Việc triển khai nghiên cứu điều tra giáo dục gia đình sâu rộng có thể không ngừng tăng cường chất lượng vận hành của trường học phụ huynh, giúp phụ huynh xác lập quan niệm giáo dục đúng đắn, thúc đẩy sự đào sâu của giáo dục gia đình.
Từ ví dụ này chúng ta thấy ngôi trường này dựa vào “quy phạm quản lý, chế độ hoàn thiện” để khiến giáo dục phụ huynh chính quy hóa, sau đó lựa chọn “nội dung có tính mục tiêu” để giáo dục phụ huynh có hiệu quả thực tế, mà giáo dục được triển khai thông qua việc “thông suốt kênh giao lưu”. Ngoài ra, nhà trường triển khai nghiên cứu khoa học đối với hợp tác trường – nhà, giúp mô hình này càng thêm khoa học và quy phạm.
Nhà trường tổ chức cho phụ huynh tự giáo dục
Một phương diện quan trọng khác trong công tác giáo dục phụ huynh của nhà trường là dựa vào việc tổ chức thực tiễn tự giáo dục của phụ huynh, tăng cường tố chất phụ huynh, xử lý các bài toán khó của giáo dục gia đình. Trường Tiểu học Hồng Kỳ thuộc quận Hồng Khẩu, Thượng Hải nhắm vào nhu cầu của phụ huynh, từ năm 1998 đã tiến hành nghiên cứu thực tiễn mô hình hướng dẫn “Gia đình Hỗ trợ Uyển”.
Thực tiễn của “Gia đình Hỗ trợ Uyển”
1. Quá trình thao tác của “Gia đình Hỗ trợ Uyển”
Trước khi thực hiện “Gia đình Hỗ trợ Uyển”, nhà trường tổ chức họp phụ huynh học sinh theo đơn vị lớp trong các lớp thí nghiệm, giảng giải ý nghĩa, tác dụng của “Gia đình Hỗ trợ Uyển”, và lắng nghe kiến nghị cũng như ý kiến của phụ huynh. Tiếp theo, do phụ huynh tùy ý kết hợp, phụ huynh đa số chọn những người mà con cái giữa họ thường ngày có quan hệ khá mật thiết hoặc giữa các phụ huynh khá thân thiện để làm bạn đồng hành của mình, sau đó phụ huynh tự bầu một phụ huynh tin cậy làm trưởng nhóm. Hoạt động lần đầu do phụ huynh chủ trì, tiến hành thảo luận về các vấn đề nóng trong giáo dục gia đình, qua mọi người bàn bạc, cuối cùng xác định vài chủ đề làm nội dung hoạt động. Phụ huynh cùng nhau xây dựng kế hoạch và phương án, bàn bạc chốt thời gian, địa điểm và nội dung cụ thể để thực hiện hoạt động. Thành viên của “Gia đình Hỗ trợ Uyển” không phải là bất biến, các trưởng nhóm trong lớp cùng nhau nghiên cứu bàn thảo, thông báo tin tức cho nhau, kịp thời truyền đạt nội dung hoạt động của các nhóm, phụ huynh có thể dựa vào nhu cầu của mình, dưới sự sắp xếp của trưởng nhóm để điều phối sự lựa chọn của mình. Đôi khi do nội dung hướng dẫn có điểm gần giống nhau, sẽ có vài nhóm liên kết hoạt động. Tóm lại, thao tác hướng dẫn của “Gia đình Hỗ trợ Uyển” là một quá trình động, thời gian, địa điểm, nhân sự, nội dung đều có thể do phụ huynh dựa theo nhu cầu bản thân để lựa chọn thích hợp, phụ huynh có thể trưng bày, truyền thụ đầy đủ sở trường của mình và người thân trước tất cả các gia đình, giáo viên thì tiến hành thảo luận về các vấn đề phát hiện trong trường và các vấn đề cùng tồn tại trong giáo dục gia đình.
2. Nội dung của mô hình hướng dẫn “Gia đình Hỗ trợ Uyển”
Dựa theo tình hình của trường Tiểu học Hồng Kỳ, nhu cầu của phụ huynh cơ bản có các phương diện sau.
(1) Vấn đề thái độ học tập của trẻ: Bài tập về nhà trì trệ, che giấu; trẻ học tập không chủ động, ham chơi; trẻ thiếu thói quen đọc sách kiên trì bền bỉ; khi trẻ học tập gặp khó khăn, thiếu ý muốn tự giải quyết và tinh thần độc lập suy nghĩ, v.v.
(2) Vấn đề bồi dưỡng hứng thú của trẻ: Cách nhìn nhận cái lợi và cái hại của giáo dục sớm; phụ huynh tận dụng thời gian rảnh của trẻ như thế nào, có nên để trẻ có nhiều sở thích ngoại khóa hơn hay không, v.v.
(3) Vấn đề tâm lý của trẻ: Trẻ tính tình bướng bỉnh, cha mẹ rất khó giao tiếp với em; trẻ làm việc dựa vào thông minh vặt, không chịu khó; trẻ ở trường là học sinh ngoan, ở nhà lại là một “đứa trẻ hư”, v.v.
(4) Vấn đề tăng cường năng lực của trẻ: Cách bồi dưỡng năng lực lao động, năng lực tự lập, năng lực cạnh tranh và năng lực sinh tồn của trẻ, v.v.
(5) Vấn đề phương thức giáo dục của phụ huynh: Tại sao phương thức đánh mắng có hiệu quả trong ngắn hạn nhưng lại không thể thay đổi trẻ từ gốc rễ; làm thế nào phối hợp với nhà trường để trường và nhà hình thành hợp lực; làm sao để trở thành người bạn thực sự của trẻ, v.v.
3. Mô hình hoạt động của “Gia đình Hỗ trợ Uyển”
(1) Hoạt động salon mang tính nghiên cứu
Thế kỷ 21 là thời đại thông tin, đồng thời cũng là thời đại học tập suốt đời, không chỉ học sinh phải học, mà phụ huynh cũng nên học, học nghiệp vụ và học phương pháp nuôi dạy gia đình, v.v. Loại hoạt động nghiên cứu này chia thành hai cấp độ, tức là nhóm và gia đình.
Nhóm lấy hình thức tọa đàm và thảo luận nghiên cứu làm chủ, địa điểm chỉ cần yên tĩnh, có thể chứa được tất cả những người tham gia là được. Do phụ huynh có trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn nhất định làm người giảng chính, lấy một số sách đọc hướng dẫn giáo dục gia đình chuyên nghiệp làm tài liệu học tập, như “Bí kíp trẻ giao lưu với bạn đồng hành”, “Hướng dẫn giáo dục gia đình”, “Hôm nay chúng ta làm cha mẹ như thế nào”, “Cha mẹ cùng học với con”, v.v. Phụ huynh nói năng không ngại ngùng, bàn về tâm đắc học tập cá nhân, bàn về kiến giải độc đáo của cá nhân, không ít “ý tưởng vàng” đã nảy sinh từ đó.
Gia đình lấy thực hành thao tác làm chủ, phụ huynh ứng dụng kiến thức thu được trong salon nghiên cứu vào thực tế giáo dục gia đình, khiến phương thức giáo dục của phụ huynh nảy sinh sự thay đổi rõ rệt, các mặt của gia đình đều có sự cải thiện.
(2) Hoạt động thực hành mang tính xã hội
Sự trưởng thành của mỗi một đứa trẻ cuối cùng đều phải do xã hội kiểm nghiệm, em có thể trở thành nhân tài mà xã hội cần hay không, có thể trở thành “người xã hội” hay không, điều này thúc giục phụ huynh khuyến khích và tạo điều kiện để trẻ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động thực hành xã hội. Do đó, “Gia đình Hỗ trợ Uyển” đã triển khai các hoạt động thực hành mang tính xã hội với chủ đề như “Bồi dưỡng năng lực giao tiếp xã hội”, “Cha mẹ và con cùng trải nghiệm”, v.v. Loại hoạt động này có phạm vi bao phủ rộng, nội dung phong phú, hiệu quả rõ rệt, được phụ huynh và học sinh đón nhận nhất, nhưng nhất định phải làm tốt công tác chuẩn bị đầy đủ. Do đó, thường trước khi xây dựng kế hoạch sẽ tổ chức hội nghị những người liên quan, dựa theo nhu cầu dự thảo phương án hoạt động cụ thể, phân công người phụ trách các hạng mục công việc, vừa chú ý yếu tố an toàn, vừa để trẻ được rèn luyện. Ví dụ, dựa vào việc phụ huynh, học sinh và giáo viên cùng tọa đàm, mọi người đã làm rõ năng lực giao tiếp xã hội là một trong những yếu tố quan trọng hình thành tố chất tổng hợp của một “người xã hội”. Dưới sự hướng dẫn của lý niệm này, phụ huynh khích lệ trẻ bước ra khỏi cửa nhà, tiếp xúc nhiều hơn với bạn bè xung quanh, để em học được phương thức giao tiếp đúng đắn văn minh.
(3) Hoạt động liên hoan gia đình
Loại hoạt động này lấy hình thức nhóm là thích hợp hơn, hai ba gia đình hợp tính tình tự do kết hợp, lấy thư giãn, tận hưởng làm mục tiêu chính, thời gian, địa điểm càng tùy ý hơn. Chụp vài tấm ảnh cả nhà vui vẻ, quay một đoạn cảnh tượng thú vị, để phụ huynh làm nhạt đi sự vất vả của công việc cả ngày, để trẻ tăng thêm niềm vui vô tận trong cuộc sống. Ví dụ, các hoạt động như “Cùng đi chơi công viên rừng”, “Một ngày tham quan Quảng trường Nhân dân”, “Kỷ niệm sinh nhật mười tuổi”, v.v., có cơ hội khiến phụ huynh thấu hiểu trẻ hơn, trân trọng trẻ hơn, học cách tôn trọng ý kiến của các em. Trong hoạt động, trẻ cũng cảm nhận được sự quan tâm của bậc trưởng bối, từ đó thực hiện mục đích tương tác tình cảm. Các hoạt động liên hoan gia đình quy mô nhỏ như “Karaoke gia đình”, “Thi kiến thức gia đình”, “Thi hội thoại tiếng Anh”, “Thi đấu thể thao”, “Vẽ tranh làm thơ”, “Lắp ráp xe đua”, v.v., đã làm mật thiết quan hệ giữa trẻ và các thành viên gia đình, tăng cường giao lưu tình cảm.
Trong “Gia đình Hỗ trợ Uyển”, địa vị và tác dụng của giáo viên nảy sinh sự thay đổi rõ rệt, giáo viên không còn là người chủ đạo mà trở thành người cùng tham gia và dẫn dắt hoạt động, phụ huynh trở thành chủ thể của “Gia đình Hỗ trợ Uyển”.
Trường Hồng Kỳ đã tổng kết kinh nghiệm mô hình hướng dẫn “Gia đình Hỗ trợ Uyển”: Thứ nhất, phụ huynh tăng cường rõ rệt ý thức chủ động. Vài lớp thí điểm “Gia đình Hỗ trợ Uyển”, tỷ lệ đến trường tham gia lên lớp trường học phụ huynh tăng cao, sự hiệp tác giữa phụ huynh và giáo viên trong giảng bài ăn ý hơn, số lượng phụ huynh chủ động giao lưu với giáo viên tăng lên rõ rệt, không khí lớp học sôi nổi. Thứ hai, mức độ hòa hợp giữa cha mẹ và con cái từng bước nâng cao. Không ít gia đình vốn dĩ quan hệ giữa cha con (gái), mẹ con (gái) khá căng thẳng, sau khi tham gia “Gia đình Hỗ trợ Uyển” quan hệ đã nảy sinh sự cải thiện rõ rệt. Thứ ba, trẻ đạt được tiến bộ rõ rệt về các mặt. Thái độ học tập, năng lực giao tiếp, năng lực độc lập của những người tham gia “Gia đình Hỗ trợ Uyển” phổ biến đều có tiến bộ so với trước đây.
III. Các ví dụ về hợp tác tương tác trường – nhà
Trong thực tiễn hợp tác trường – nhà, có nhiều đặc sắc đa dạng, một số thực tiễn mang tính tổng hợp, trong tiết này, sẽ xếp chúng vào thực tiễn hợp tác tương tác.
Hợp tác tương tác giữa Thầy, Phụ huynh, Trò
Giáo dục “Tam nguyên tuần hoàn” chỉ việc “Phụ huynh giáo dục giáo viên và học sinh”, “Giáo viên và học sinh giáo dục phụ huynh”, “Giáo viên và phụ huynh giáo dục học sinh”, thông qua giáo dục “Tam nguyên tuần hoàn” khiến giáo viên, học sinh và phụ huynh đạt được sự phát triển và nâng cao chung, nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng là nâng cao sự phát triển của học sinh.
“Tam nguyên tuần hoàn” trong giao tiếp hiệu quả trường – nhà
1. Phụ huynh giáo dục giáo viên và học sinh
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, những người nghiên cứu và lãnh đạo trường không đơn giản triển khai tuyên giảng về ý nghĩa giao tiếp “trường – nhà” tới đông đảo giáo viên tham gia nghiên cứu, mà cùng với giáo viên tham gia vào việc thăm hỏi gia đình của một số học sinh, và tìm hiểu, quan sát, ghi chép chi tiết về thái độ, hành vi của phụ huynh đối với việc thăm nhà trong quá trình thăm hỏi đó. Sau khi thăm hỏi gia đình, đã chỉnh lý ra ba ví dụ điển hình cùng với giáo viên thảo luận về sự cần thiết và tác dụng của liên hệ “trường – nhà”.
Ví dụ 1: Học sinh Diêu XX, nam, lớp 9.
Đánh giá của giáo viên trước khi thăm nhà: Học sinh này thành tích học tập mức trung bình kém, do trong giờ học, giờ tập thể dục giữa giờ và những nơi khác hay làm hành động nhỏ hoặc la hét mà đã sớm “tiếng xấu vang xa”. Các giáo viên phản ánh học sinh này “không chịu quản giáo”, trong lớp có nhóm nhỏ của riêng mình, là nhân vật trung tâm của nhóm nhỏ. Các giáo viên thống nhất cho rằng em này đầu óc linh hoạt, phản ứng nhạy bén.
Ví dụ 2: Học sinh Chu XX, nam, lớp 8.
Đánh giá của giáo viên trước khi thăm nhà: Thành tích học tập của học sinh này kém nhất toàn khối, giờ học “ánh mắt dáo dác khắp nơi, chỉ là không mấy khi nhìn giáo viên”, không ghi chép bất cứ thứ gì, đa số thời gian lên lớp không mở sách giáo khoa, cực kỳ ít khi chủ động làm bài tập. Thầy cô tìm em nói chuyện tâm tình, em thường nghênh đầu, lắc lư thân mình. Khi chào cờ, tay em đặt sau đầu, luôn “nhìn quanh” các bạn xung quanh. “Em ấy là một học sinh không thiết tha gì với mọi thứ.” Một giáo viên chủ nhiệm đã đánh giá em như vậy.
Ví dụ 3: Học sinh Vương XX, nữ, lớp 8.
Đánh giá của giáo viên trước khi thăm nhà: Học sinh này trong lớp thành tích học tập kém, nhưng luôn ngồi yên nghe giảng, “đúng mực quy củ”, đảm nhiệm giám sát viên vệ sinh của lớp, công việc xuất sắc của em khiến vệ sinh lớp thường xuyên được nhà trường biểu dương. Kính trọng thầy cô, nói năng nhỏ nhẹ, làm bài tập viết chữ vô cùng nắn nót, nhưng tỷ lệ sai cao, chưa bao giờ chép bài tập của người khác. Thành tích học tập có nâng cao so với trước, nhưng tiến bộ chậm.
Nhắm vào các tình huống trên, người nghiên cứu đã triển khai công việc như sau:
(1) “Để phụ huynh giáo dục giáo viên”.
Về phía giáo viên, người nghiên cứu cùng lãnh đạo trường và toàn thể giáo viên thảo luận về vấn đề giáo dục mà ba ví dụ này đặt ra, tập hợp thành dạng bảng biểu, chỉ để giáo viên và nhà trường trả lời câu hỏi ở ô cuối cùng của bảng. Tóm tắt câu hỏi như bảng dưới.
Trong thảo luận, nhắm vào biểu hiện tốt như vậy của học sinh cuối cùng, toàn thể những người làm giáo dục bày tỏ, nếu gặp loại học sinh này nhất định sẽ dồn toàn bộ tinh lực giáo dục tốt các em; đối với hai loại học sinh trước, có giáo viên đưa ra quan điểm “Phụ huynh còn chẳng thèm quan tâm như thế, lấy tư cách gì bảo chúng ta phải quản”; có giáo viên cho rằng “Chính vì phụ huynh không quản, giáo viên mới nên quản nhiều hơn”. Liên hệ với hoàn cảnh gia đình cụ thể của học sinh, sau một hồi tìm tòi thảo luận, các giáo viên đã hình thành đồng thuận: “Giáo dục học sinh ngoài ta còn ai?” Câu trả lời cho vấn đề trong bảng cuối cùng cũng hình thành. Tuy nhiên, toàn thể những người làm giáo dục đều cho rằng, giáo dục học sinh còn phải phối hợp nhất quán với giáo dục và ảnh hưởng từ gia đình, do đó, các giáo viên nhận thấy mình có sự cần thiết phải giáo dục và thuyết phục phụ huynh.
(2) “Để phụ huynh giáo dục học sinh”.
Ở phía học sinh, giáo viên và người nghiên cứu để những học sinh bản thân biểu hiện kém mà gia đình lại thiếu tinh thần trách nhiệm phản tư hành vi của cha mẹ mình, khiến học sinh suy nghĩ xem cha mẹ có thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm mà một phụ huynh nên làm hay không, lại để học sinh đào sâu phản tư bản thân nên làm thế nào. Để những học sinh bản thân biểu hiện tốt mà gia đình lại có nguyện vọng giáo dục mạnh mẽ cảm nhận nghiêm túc nỗi vất vả của cha mẹ khi giáo dục mình, nguyện vọng khẩn thiết của cha mẹ đối với sự phát triển trưởng thành của mình cũng như tính tích cực và nhiệt huyết tầm cầu tiến bộ của họ.
2. Để giáo viên và học sinh giáo dục phụ huynh
Để bồi dưỡng môi trường gia đình màu mỡ – “mảnh đất nhân sinh” cần thiết cho sự trưởng thành của học sinh, người nghiên cứu còn khuyến khích những giáo viên đã “giác ngộ” đi giáo dục những phụ huynh chưa “giác ngộ”.
Một là giáo viên dựa vào thăm nhà để giải quyết vấn đề thái độ của phụ huynh trong việc đối xử với con cái. Khiến giáo viên trong quá trình tiếp xúc với phụ huynh giúp phụ huynh hình thành tâm lý “người nhà mình”, trên nền tảng đó lại đề ra yêu cầu mục tiêu thúc đẩy sự tiến bộ của phụ huynh, ví dụ như không đánh bạc, ăn mặc chỉnh tề, nhà cửa sạch sẽ, v.v. Sách lược yêu cầu phụ huynh tiến bộ là “đi bước nhỏ, bước không ngừng”. Tất cả những điều đó đều mời học sinh làm liên lạc viên và giám sát viên cho giáo viên, đóng vai trò “thầy giáo nhỏ” cho sự tiến bộ của cha mẹ.
Hai là mở trường học phụ huynh. Nghiên cứu này tham khảo phương pháp thiết lập trường học phụ huynh của Sukhomlinsky tại trường trung học Pavlysh, dựa theo cách làm chia mỗi khối lớp trung học cơ sở thành một nhóm, mỗi nhóm mỗi tháng hoạt động hai lần. Phương thức hoạt động chính do nhân viên nghiên cứu, hiệu trưởng và giáo viên có kinh nghiệm triển khai giảng bài hoặc nói chuyện, “kết hợp chặt chẽ kiến thức lý luận tâm lý học và giáo dục học với thực tiễn giáo dục gia đình”; hoặc tổ chức hội thảo luận phụ huynh, chủ yếu mời phụ huynh giới thiệu kinh nghiệm giáo dục của mình cho nhau, học hỏi sở trường của nhau, dùng nhóm phụ huynh tốt thúc đẩy nhóm phụ huynh lạc hậu.
3. Để giáo viên và phụ huynh giáo dục học sinh
Trong giáo dục học sinh hoặc trẻ em, thường có thói quen thuyết lý, nhưng trong nhiều tình huống, phương pháp này dễ khiến học sinh hình thành tâm lý nghịch phản, hiệu quả không rõ rệt. Trong mắt xích này của giáo dục tuần hoàn, thiên về dựa vào sự làm gương hành vi tốt đẹp và dẫn dắt hợp lý, mức độ của phụ huynh và giáo viên để đạt được ảnh hưởng toàn diện đối với sự phát triển của học sinh.
Bước thứ nhất của sách lược thực tiễn là “bắt đầu từ sự quan tâm”. Sự quan tâm của giáo viên và phụ huynh đối với học sinh lấy sự chú ý đến học sinh làm điểm khởi đầu. Quan tâm không thể chỉ dừng lại ở tầng nấc chú ý, sự quan tâm của giáo viên và phụ huynh đối với học sinh còn phải liên hệ với sự giúp đỡ thực tế của họ dành cho học sinh. Sự giúp đỡ của giáo viên chủ yếu biểu hiện ở việc học tập, đặc biệt là sự giúp đỡ đối với học sinh có khó khăn trong học tập. Sự giúp đỡ của phụ huynh biểu hiện nhiều hơn ở việc họ tạo ra bầu không khí học tập tốt cho việc học của trẻ cũng như giúp trẻ giải quyết vấn đề thích ứng xã hội của các em.
Bước thứ hai của sách lược thực tiễn chính là tăng cường ý thức và tố chất kính nghiệp của giáo viên, tận trách của phụ huynh. Phụ huynh và giáo viên dựng xây hình tượng mẫu mực tích cực tốt đẹp cho học sinh là phương thức giáo dục học sinh tốt nhất, mạnh mẽ nhất. Đề cao việc giáo viên và phụ huynh tận chức tận trách đối với công việc, đối với gia đình, quan tâm học sinh tỉ mỉ đến từng chi tiết, dùng chân tâm đánh thức và làm cảm động học sinh, dùng chân thành cảm hóa hành vi tốt đẹp của học sinh.
Phương thức thực tiễn “Tam nguyên tuần hoàn” không chỉ khắc phục tận gốc vấn đề kỷ luật học sinh lỏng lẻo, học sinh học tập thiếu lực trong giáo dục nhà trường, mà còn giúp toàn thể học sinh hướng tới sự phát triển thành “người lao động thành thực, công dân ưu tú và hoàn toàn đủ tư cách, người nghiên cứu không ngừng tìm tòi, nhà tư tưởng cần cù hiếu học, người cảm thấy tự hào vì tôn nghiêm nhân cách của chính mình”. Đồng thời, thực tiễn này cũng giáo dục giáo viên và phụ huynh, khiến lý niệm giáo dục của giáo viên được nâng cao, tình cảm giáo dục được thăng hoa; giúp phụ huynh thấu hiểu sâu sắc vai trò của mình trong giáo dục trẻ em và trọng trách mà mình nên gánh vác.
Hợp tác tương tác giữa nhà trường, gia đình, xã hội
Một trường tiểu học nọ từ năm 1979 đã tìm tòi và từng bước triển khai giáo dục “tam kết hợp” nhà trường, gia đình, xã hội, qua hơn 20 năm cải cách thực tiễn, dần hình thành một mô hình giáo dục tương tác đa nguyên tham gia lấy giáo dục nhà trường làm chủ thể, giáo dục gia đình làm nền tảng, giáo dục xã hội làm căn cứ, và dần hoàn thiện cơ chế hiệu quả của mô hình giáo dục này.
“Giáo dục tương tác đa nguyên tham gia” của “tam kết hợp” nhà trường, gia đình, xã hội
Cơ chế này chủ yếu do bốn phương diện: đội ngũ giáo dục, cơ quan lãnh đạo, chế độ công tác và căn cứ giáo dục cấu thành.
Thứ nhất là cơ quan lãnh đạo. Cơ quan lãnh đạo do hai bộ máy cấu thành, một bộ máy là ban lãnh đạo hành chính do hiệu trưởng phụ trách, một bộ máy là ban lãnh đạo điều phối quản lý do Ủy ban Giáo dục Tam kết hợp đảm nhiệm. Hai bộ máy phối hợp công tác, tạo thành hệ thống chỉ huy mạnh mẽ. Trong đó, Ủy ban Giáo dục Tam kết hợp thiết lập cơ quan lãnh đạo thường trực và văn phòng chuyên dụng tại trường, chức trách là tham gia vào các quyết sách lớn của nhà trường, thúc đẩy và hướng dẫn thực hiện các công tác của trường. Dưới Ủy ban Giáo dục Tam kết hợp thiết lập sáu bộ phận: giáo dục phẩm đức, giáo dục truyền thống, giáo dục lao động khoa học kỹ thuật, giáo dục văn hóa nghệ thuật, nghiên cứu khoa học giáo dục và giáo dục gia đình, đồng thời thiết lập ban đại diện cha mẹ học sinh hai cấp trường và lớp, bắc nhịp cầu truyền đạt thông tin giáo dục, giao lưu kinh nghiệm giáo dục giữa nhà trường và gia đình, giữa phụ huynh và phụ huynh.
Thứ hai là đội ngũ giáo dục. Xây dựng đội ngũ giáo dục do nhân sự ba bên nhà trường, gia đình và xã hội liên kết cấu thành, có sự hiệp tác trong ngoài trường, hợp tác chuyên trách và kiêm nhiệm. Giáo viên chuyên trách trong trường là chủ thể trong đội ngũ đức dục, đội ngũ phụ trách ngoài trường là lực lượng bổ sung quan trọng cho đội ngũ đức dục. Nhà trường thuê hơn 200 phụ trách viên ngoài trường, trong đó có các cựu hồng quân; có các anh hùng chiến đấu trong Chiến tranh kháng Nhật, Chiến tranh giải phóng và Kháng Mỹ viện Triều cùng các chiến sĩ thi đua, nhà doanh nghiệp từ các ngành nghề; có những người làm công tác giáo dục, văn hóa, khoa học. Dựa theo ưu thế riêng của các phụ trách viên để cấu thành nhiều loại hình như hướng dẫn điển hình, giáo dục truyền thống cách mạng, giáo dục lao động khoa học kỹ thuật, giáo dục văn hóa nghệ thuật, v.v., phối hợp mật thiết với đội ngũ giáo dục nhà trường.
Thứ ba là căn cứ giáo dục. Nhà trường mở cửa với xã hội, xây dựng hệ thống các căn cứ giáo dục tương đối ổn định và hiệu quả. Dưới sự ủng hộ của xã hội, đã liên kết xây dựng được hơn 30 căn cứ với đầy đủ chức năng như học công nghiệp, học nông nghiệp, học quân sự cũng như phục vụ xã hội, khảo sát xã hội, thực hành xã hội, lao động công ích, hoạt động nghệ thuật, v.v. Trong đó có các doanh nghiệp, công xưởng, đơn vị quân dân cùng xây dựng, đơn vị văn hóa khoa học kỹ thuật, ngõ nhỏ khăn quàng đỏ và các tuyến phố thương mại. Các hoạt động này lồng ghép huấn luyện quy phạm hành vi, giáo dục tư tưởng phẩm đức, giáo dục nghệ thuật cùng các hoạt động của Đảng và Đoàn, giáo dục pháp chế thành một thể, cải thiện toàn diện tố chất học sinh.
Thứ tư là chế độ công tác. Để bảo đảm việc thực hiện hiệu quả mô hình giáo dục tương tác đa nguyên tham gia, nhà trường đã xây dựng các chế độ, như chế độ hội nghị liên tịch giáo dục tam kết hợp, quy định mỗi năm tổ chức đại hội tổng kết biểu dương một lần, đến nay đã tổ chức được 19 khóa. Còn có chế độ lãnh đạo nhà trường định kỳ báo cáo với Ủy ban Giáo dục Tam kết hợp, chế độ trường học phụ huynh, chế độ quỹ giáo dục tam kết hợp, chế độ ngày mở cửa trường học, v.v.
Thực tiễn cho thấy, thể chế quản lý và cơ chế vận hành giáo dục tương tác đa nguyên tham gia của trường tiểu học Đạo Nhạc Dương đã bảo đảm tính cởi mở, khoa học, hiệu quả và tính chỉnh thể của quản lý nhà trường, tạo thành năm cái “có lợi”: ① Có lợi cho việc điều hòa tốt hơn quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, cân nhắc sự điều hòa cấu trúc bên trong nhà trường và tối ưu hóa môi trường bên ngoài từ góc độ chỉnh thể, vĩ mô, đạt được sự tiếp nối theo chiều dọc, thâm nhập theo chiều ngang, kết hợp trong ngoài; ② Có lợi cho việc tăng cường liên tục sự liên hệ và giao lưu thông tin với hệ thống xã hội, dựa trên đánh giá của xã hội đối với giáo dục nhà trường để không ngừng điều chỉnh các công tác của trường, bảo đảm tính khoa học và khả thi của quyết sách; ③ Có lợi cho các giới trong xã hội thấu hiểu giáo dục nhà trường, tăng cường ý thức tham gia, vừa trao cho nhà trường không gian phát triển và ủng hộ vật chất đầy đủ, vừa có thể tôn trọng quy luật và nguyên tắc của chính giáo dục; ④ Có lợi cho việc tăng cường năng lực phát triển và tự chế ước của nhà trường trên cơ sở dựa dẫm đầy đủ vào xã hội; ⑤ Có lợi cho việc đào sâu cải cách thể chế quản lý nội bộ “kết hợp”, khơi dậy tính tích cực của đông đảo thầy cô và học sinh.