Nếm Trọn Vị Nhân Gian
Dư Quang Trung
Danh sách chương
Cái gọi là hương sầu,
nếu là về mặt địa lý,
chỉ cần một tấm vé máy bay hay vé xe,
đưa bạn đến trước cánh cửa quen thuộc,
là có thể giải quyết được rồi.
Nếu là về mặt thời gian thì sao,
vậy thì mọi con đường đều là một chiều,
mọi cánh cửa đều đã đóng lại,
không có lấy một cánh cửa nào có thể để bạn quay về.
—— “Đô thị không có láng giềng”
Đô thị không có láng giềng
I
Sáu năm trước từ Hồng Kông trở về, tôi vẫn luôn định cư ở Cao Hùng, bất kể lúc tỉnh hay lúc mơ, bên tai văng vẳng xa xăm đều là tiếng sóng của eo biển. Bạn cũ không khỏi trách móc: Tại sao tôi lại ruồng bỏ Đài Bắc? Câu trả lời của tôi là: Chẳng phải tôi ruồng bỏ Đài Bắc, mà là Đài Bắc đã ruồng bỏ tôi.
Ở miền Nam những năm qua, nếu không cần thiết, tôi tuyệt đối không dễ dàng đi lên phía Bắc. Có khi nóng lòng, thậm chí còn dứt khoát nói rằng: “Từ chối Đài Bắc, là khởi đầu của hạnh phúc!” Bởi vì việc không kể lớn nhỏ, Đài Bắc luôn làm chủ xướng, chẳng hạn như họp hành, diễn thuyết, tiệc tùng, triển lãm v.v., nếu Đài Bắc vừa vẫy tay là vội vàng đi lên phía Bắc, thì những ngày của tôi ở Cao Hùng sẽ không thể sống yên ổn được.
Nói như vậy, tôi thật giống một kẻ vô tình, gần như là vong ơn bội nghĩa. Thực ra không phải vậy. Tôi không đi Đài Bắc, ít đi Đài Bắc, sợ đi Đài Bắc, tuyệt đối không phải vì tôi đã quên Đài Bắc, mà hoàn toàn ngược lại, là vì tôi không thể quên được Đài Bắc —— Đài Bắc của tôi, Đài Bắc của ngày xưa. Cái bồn địa phồn hoa ấy, cái bồn chứa đựng những giấc mơ thời thiếu niên, những ký ức thời tráng niên, chứa đựng những cảnh tượng khi tôi mới làm chồng, mới làm cha, mới làm tác giả và giảng viên, thậm chí sớm hơn nữa, chứa đựng những năm tháng tôi còn là sinh viên và còn có mẹ —— những năm năm mươi rực rỡ khi ấy, giờ đây đã thành những thước phim đen trắng, Đài Bắc của tôi; bất kể tôi ngồi xe Quốc Quang từ phía Tây Bắc, hay ngồi xe Tự Cường từ phía Tây Nam, hay ngồi máy bay Hoa Hàng từ phía Đông Bắc vào thành phố, cái Đài Bắc đó vĩnh viễn không thể quay về được nữa.
Còn như cái Đài Bắc từ thập niên tám mươi bỗng chốc đã bước sang thập niên chín mươi, bất kể là đọc được trên báo, nhìn thấy trên tivi, hay thân hành bắt gặp trên đường phố, đa phần đều không khiến người ta vui vẻ; bất kể những kẻ tiên tri hay kẻ lừa đảo dùng những từ ngữ như “quá độ”, “đa nguyên”, “mở cửa” để giải thích, cũng không khiến người ta cảm thấy thân thuộc. Bạn đi trên đường Trung Hiếu Đông, cả một thế giới sáng choang và ngạo mạn ngay bên khuỷu tay đang xô đẩy bạn, nhưng mọi thứ dường như lại cách bạn thật xa xôi, cái gì cũng không nắm bắt được, không giữ lại được. Giống như người thợ săn trong truyền thuyết sau một giấc ngủ tỉnh dậy, xuống núi, lạc vào một thế giới xa lạ, bạn đang đi trên đường phố Đài Bắc.
Cái gọi là hương sầu, nếu là về mặt địa lý, chỉ cần một tấm vé máy bay hay vé xe, đưa bạn đến trước cánh cửa quen thuộc, là có thể giải quyết được rồi. Nếu là về mặt thời gian thì sao, vậy thì mọi con đường đều là một chiều, mọi cánh cửa đều đã đóng lại, không có lấy một cánh cửa nào có thể để bạn quay về. Trải qua mười năm ở Hồng Kông, tôi đã trở thành một lãng tử của thời gian, mang trên lưng hành trang nặng nề của ký ức, trở về trước cánh cửa Đài Bắc, lại phát hiện chìa khóa vàng đã mất, tôi từ lâu đã tự nhốt mình ở ngoài cửa.
Trong sự kinh ngạc và thẫn thờ, dù cho tôi có gọi mở được cửa, thì thứ đối lập ở bên trong cũng chỉ là một khuôn mặt xa lạ, thờ ơ và mất kiên nhẫn.
“Vậy tại sao ông lại đi Cao Hùng?” Bạn bè hỏi, “Cao Hùng có biết ông không?”
“Cao Hùng vốn không biết tôi lúc trẻ,” tôi đáp, “tôi cũng không biết Cao Hùng của ngày xưa. Cho nên không mất mát điều gì, mọi thứ có thể bắt đầu lại từ đầu. Đài Bắc thì khác, bối cảnh quá sâu dày, tự nhiên sẽ có sự thương hải tang điền. Bồn địa Đài Bắc là thung lũng vọng âm của tôi, những tiếng vọng vô tận vây quanh tôi, ám ảnh tôi, xoay chuyển thành một vòng xoáy ký ức.”
II
Con hẻm ở phố Hạ Môn đó đương nhiên vẫn còn ở đó. Sự thay đổi của Đài Bắc, đa phần là về hướng Đông Bắc, sự tàn phá của máy xúc đối với phía Nam thành phố có quy mô nhỏ hơn nhiều. Nếu bồn địa Đài Bắc là một thung lũng vọng âm lớn, thì con hẻm phố Hạ Môn là một thung lũng vọng âm nhỏ quanh co, vang vọng tiếng bước chân của tôi ngày trước. “Hẻm nhà” của tôi, hẻm 113, đầu hẻm nối với phố Hạ Môn, cuối hẻm thông ra phố Đồng An, đương nhiên vẫn ở đó. Con hẻm hẹp và dài này có khá nhiều lịch sử văn học. Những năm năm mươi, ký túc xá của báo “Tân Sinh” nằm ở giữa hẻm, thường thấy bóng dáng của Bành Ca. Có một dạo, Phan Lũy cũng cư ngụ ở cuối hẻm. Thời kỳ tạp chí “Văn Học”, nơi ở của nhà phát hành Lưu Thủ Nghi, cũng chính là trụ sở tạp chí, nằm trong một con hẻm nhỏ khác trên phố Đồng An đối diện chếch với cuối hẻm. Cho nên những ngõ hẻm quanh co ở khu vực đó cũng thường nghe thấy tiếng cười nói phong lưu của Hạ Tế An, Ngô Lỗ Thinh, khuôn mặt đỏ bừng vì phấn khích của Hạ Tế An đối chiếu với ánh mắt thản nhiên của Ngô Lỗ Thinh. Ngôi nhà cổ kiểu Nhật của Vương Văn Hưng ẩn hiện trong bóng cây già, nằm ngay cuối phố Đồng An nối với đê đường Thủy Nguyên, vì thế trong tầm đi bộ, ông cũng thường xuất hiện ở gần đó. Đó đương nhiên vẫn là những năm tháng xa xăm trước khi có tác phẩm “Gia Biến”. Sau này nhà Hoàng Dụng cũng chuyển đến hẻm 113, số nhà chỉ cách nhà tôi vài số, một cơn gió thổi qua, lá cây trong sân hai nhà đều sẽ trước sau lao xao.
Heraclitus từng nói: “Sóng sau dập dìu, cuồn cuộn không dứt. Rút chân bước lại, đã chẳng còn là dòng xưa.” Thời gian chảy qua thung lũng vọng âm của con hẻm dài đó, những người kể trên cũng đều đã tản mát cả. Chỉ còn lại kẻ dân cư Hạ Môn là tôi đây, giữ lấy con hẻm hẻo lánh phố Hạ Môn, cho đến giữa thập niên tám mươi, mới đem nó, cái rễ không rễ, cái sản nghiệp không phải sản nghiệp của mình, giao cho nhà sách Hồng Phạm và nhà xuất bản Nhĩ Nhã đến sau trông nom.
Chỉ cần là “độc giả trung thành” của tôi, không ai là không biết phố Hạ Môn. Gần nửa đời người tiêu tốn trong đó, mẹ tôi qua đời trong đó, bốn cô con gái và mười bảy cuốn sách ra đời trong đó, vùng đất ấy nếu không phải là quê hương tôi, thì ít nhất cũng được coi là phố thị, láng giềng, xóm giềng và nơi ở cũ của tôi. Nếu như tôi mắc chứng mộng du, cảnh sát chắc chắn có thể tìm thấy tôi ở khu vực đó.
Dù vậy, vào những lúc tôi tỉnh táo, tôi sẽ không đi thăm lại chốn cũ. Mặc dù mỗi tháng đều nhất định đến Đài Bắc, nhưng lại không có dũng khí bước vào con hẻm đó một lần nữa, càng không dám đến viếng thăm ngôi nhà đó, bởi vì con hẻm tuy đã mở rộng, nắn thẳng, nhưng hai bên lại lập tức đỗ đầy xe hơi, ngược lại càng trở nên chật hẹp hơn. Bờ tường thấp từng được che phủ bởi hoa dâm bụt, hoa giấy, cùng với bóng cây thưa thớt đều biến mất cả rồi, thay vào đó là những tòa chung cư san sát mọc lên, và một loại lưới ăng-ten cành lá kiểu khác. Tiếng guốc mộc thanh thúy gõ lên sự tĩnh mịch của cả con hẻm, từ xa lại gần, từ gần rồi trầm xuống. Tiếng chuông xe đạp thanh thúy kính coong lướt qua ngoài cửa, đó là người bán báo buổi sáng, học sinh đi học về buổi hoàng hôn, còn có cả xe xích lô xen kẽ trong đó. Khi đêm khuya tự nhiên sẽ có những âm thanh khác đến thay ca, thanh âm thê lương và u oán là tiếng sáo của cô gái xoa bóp hay người mù, ung dung đi qua, âm thanh trầm lắng lộ ra sự dày dặn là tiếng rao “bánh ú nóng” cho những người thức khuya. Tiếng rao bánh ú nóng đó, vừa mở nắp lồng là hơi trắng bốc lên trong màn đêm, tôi tuy chưa bao giờ mở cửa đi mua, nhưng nghe thấy bên tai, biết rằng trong con hẻm vẫn còn có người đang cùng tôi chia sẻ đêm khuya, mà bớt đi nỗi cô đơn.
Nhưng tất cả những thứ đó đều biến mất rồi, con hẻm mở rộng mà hóa hẹp, đang vang động tiếng ồn ào của xe hơi, tiếng nổ của xe máy. Trong hẻm có thêm nhiều người ở, nhưng lại mất đi láng giềng, bởi vì sau khi về nhà ai nấy đều tự nhốt mình vào chung cư, ra khỏi cửa, lại tự nhốt mình vào xe hơi. Đi trong con hẻm ngày nay, thật khó liên tưởng đến bài “Nguyệt Quang Khúc” tôi viết:
Con hẻm nhỏ phố Hạ Môn mảnh khảnh mà dài
Dùng ống hút lúa mạch sạch sẽ như thế mà hút ánh trăng
Ánh trăng mát lạnh, ánh trăng phảng phất vị bạc hà
Mà tiếng tru dữ tợn của bầy sói máy móc, cũng đã che lấp mất bài “Mộc Kịch Hoài Cổ Tổ Khúc” của tôi:
Cộc cộc cách
Cách cách cộc
Cho tôi một đôi guốc mộc nhỏ
Để tôi gõ cho tuổi thơ thức dậy
Như dùng một nhạc cụ nhỏ ngốc nghếch
Từ đầu hẻm
Đến cuối hẻm
Cộc cách lạch cạch
Lạch cạch cộc cách
III
Những tác giả trẻ những năm năm mươi muốn gửi bài, “Trung Ương Phụ San” là vùng đất mà các binh gia nhất định phải tranh giành. Tôi từ Hồng Kông đến Đài Loan, học chuyển tiếp năm thứ ba khoa Ngoại văn Đại học Đài Loan, lập tức nghiêm túc gửi bài cho “Trung Ương Phụ San”, bài nào gửi cũng được đăng. Chỉ có một lần bản thảo thơ bị trả lại, tôi không phục, đem nguyên bài thơ đó gửi lại lần nữa, không ngờ lại được đăng. Việc này trong lịch sử gửi bài, không biết có tiền lệ hay không. Thời kỳ sớm nhất, nhuận bút mỗi bài thơ là năm đồng, đã đủ để tôi đưa bạn gái đi xem một bộ phim, ăn một bữa tiệm rồi.
Bản thảo thơ mỗi lần gửi đi, khoảng một tuần sau thì đăng. Tính toán ngày giờ đã đến, sáng sớm chỉ cần nghe thấy một tiếng “bạch” ở sân trước, đó chính là tờ báo từ ngoài hàng rào tre bay vào. Tôi liền đẩy cửa ra, nhặt tờ báo dưới gốc cây dừa cảnh, dưới ánh bình minh màu hồng nhạt, nhẹ nhàng, chậm rãi rút phần phụ san bên trong ra. Thứ nhìn thấy đầu tiên luôn là dòng thơ cuối cùng, chỉ một dòng thôi là đủ rồi, là của chính mình. Khoảnh khắc đó, thế giới thật kỳ diệu làm sao, rạng đông là mới, tờ báo là mới, tác phẩm mới của chính mình cũng mới tinh khôi. Người biên tập lại một lần nữa khẳng định tôi, thế giới lại một lần nữa chú ý đến tôi, thật đủ khiến người ta lâng lâng.
Chẳng bao lâu sau giấy báo nhuận bút đã đến, lặng lẽ tới hộp thư trước cửa. Đương nhiên còn có thư từ, tạp chí, sách tặng. Thế giới đến gõ cửa, luôn là cưỡi xe đạp mà đến, sau tiếng phanh xe, lại nhấn chiếc chuông điện co giật. Tôi muốn đi tìm thế giới, cũng là dắt ra chiếc xe Hercules nhẹ nhàng và linh hoạt, chân trái đạp bàn đạp, chân phải tung người nhảy lên, kéo theo một chuỗi tiếng chuông giòn giã, rồi đi ra phố. Nếu đôi chân có lực và lại thuận gió, đôi bánh xe bên dưới đạp ra khí thế của Na Tra, nhà bạn gái trên đường Chung Sơn Bắc mười tám phút là đến nơi.
Đêm mùa hè tốt nghiệp Đại học Đài Loan, tôi và Tiêu Dục Thắng cùng đạp xe lên thẳng Viên Sơn, nằm trên bãi cỏ ngẩn ngơ đối diện với bầu trời sao. Thời sinh viên cuối cùng đã từ biệt rồi, mà tương lai đầy rẫy những biến số, không biết phải làm sao mới tốt. Lúc đó vẫn chưa thịnh hành cái gọi là “thế hệ mất mát”, nhưng chúng tôi thực sự đã mất mát rồi. May mà con người ở trong xã hội, thân không tự chủ được. Sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp phải huấn luyện, thực hiện nghĩa vụ quân sự, bắt đầu từ khóa của chúng tôi. Chúng tôi xuất thân từ khoa Ngoại văn, không cần đi Phượng Sơn huấn luyện nghiêm khắc, bèn ở lại Đài Bắc làm sĩ quan phiên dịch. Tôi lần lượt phục vụ tại Cục Liên lạc và Sảnh thứ ba, mãi đến năm 1956, Hạ Tế An vì việc bận, không thể tiếp tục kiêm nhiệm tiết tản văn ở Đông Ngô, bảo tôi đi dạy thay. Đây là nhân duyên lần đầu tôi bước lên bục giảng đại học.
Sống ở Đài Bắc những năm năm mươi, tự thấy hồng trần mười trượng, cũng đủ phồn hoa rồi. Thực ra áp lực dân số không lớn, giao thông cũng còn lưu thoát, một số đường phố hẻo lánh thậm chí còn có chút thú vui đồng nội. Cưỡi xe đạp, trên đường Hòa Bình Đông phóng xe chạy nhanh về phía Đông, ngọn núi Ngón Cái nhô lên đầy cá tính cứ luôn trong tầm mắt, vì phía trước không có nhà cao tầng, mà vừa qua đường Tân Sinh Nam, là xe ít người thưa, nhà cửa thưa thớt, bắt đầu hoang vắng rồi. Đôi bánh xe hướng về phía Bắc, từ đoạn hai đường Chung Sơn Bắc rẽ phải lên đường Nam Kinh Đông, chẳng phải là đại lộ bốn làn rộng rãi như ngày nay, à không phải, chỉ là một con đường xi măng rải thô quanh co, uốn lượn ẩn hiện giữa ruộng lúa mạ xanh. Hai năm tôi học Đại học Đài Loan, đôi bánh xe dọc theo đường Roosevelt về phía Nam, bên tay phải toàn là ruộng mạ tiếp nối ruộng mạ, màu xanh tươi thuần khiết vô tội như thế, lại dùng những con cò trắng ngây thơ để phản dụ, hỏi sao không khiến người ta thèm thuồng, nếu nhìn lâu, thật sự sẽ mắc chứng “no mắt vì màu xanh” mất. Loại khủng hoảng hạnh phúc này, những người Đài Bắc mới mắt bị mê hoặc bởi đèn neon không cần phải lo lắng.
Mùa đông năm thứ tư đại học, một buổi hoàng hôn, luồng không khí lạnh ập đến, thầy Ngô Bỉnh Chung gọi tôi đến nhà thầy ăn lẩu. Đội cơn gió lạnh như cắt mặt đạp xe ra khỏi cửa, tôi đi vòng một vòng qua phố Hành Dương trước. Mới khoảng tám giờ, trên đường không những thưa thớt người đi lại, mà ngay cả xe hơi, xe đạp cũng chẳng thấy mấy chiếc, chỉ có mây đen đè thấp bầu trời, tiếng gió lay động bóng cây. Thành phố Đài Bắc những năm năm mươi, nay nhìn lại, chỉ giống như một tỉnh lỵ nhỏ không mấy nổi bật, phồn vinh hay tráng lệ đều không nói lên được, nhưng cảm giác về không gian dường như rất lớn, bởi vì trống trải, ít nhất là so với ngày nay, người thưa xe ít, cây rậm nhà thấp. Bốn mươi năm sau, Đài Bắc cao lên rồi, khiến trời trở nên nhỏ bé, cũng lớn lên rồi, nhưng vì chật chội, ngược lại có vẻ như co lại. Đài Bắc, giống như một chiếc áo bó sát mặc trên người tất cả người Đài Bắc. Cái sự bó đó, không chỉ là áp lực đối với nhục thể, mà còn là đối với tinh thần, không chỉ là sự đe dọa về không gian, mà còn là về thời gian. Một chiếc kim giây đầy thần kinh, không nể mặt mũi mà truy đuổi tất cả người Đài Bắc. Những thời hạn cuối dài dài ngắn ngắn, đặt ra cho bạn những hạn định lớn nhỏ, khiến bạn giật mình tỉnh giấc từ trong mơ. Chỉ cần vừa ra khỏi cửa, những bảng hiệu, tiếng ồn, khí thải, thông tin thông tin thông tin như thiên la địa võng, sẽ quất bạn thành một con quay không nơi nương tựa.
Khi nào bạn mới có thể đối diện với chính mình?
Lúc đó trên đầu phố Võ Xương, một nhà thơ có thể dựa vào sạp sách nhỏ, thống trị vương quốc ngồi một mình của mình, cùng mỉm cười từ xa với Spinoza mài gương tự nuôi thân, với Diogenes lấy thùng làm nhà. Mà dưới bóng cây thấp tường ngắn phố Cổ Lĩnh, mỗi khi đêm về, luôn có một nhóm người yêu sách mộng du về ngày cũ, già hay trẻ, còng lưng hay ngồi xổm, hướng về những đống những xấp bản thảo rơi rụng, sách hiếm bản độc của những năm tháng xa xưa, mà mỗi người phát khởi cái tình hoài cổ của mình.
Đài Bắc lúc đó, có một loại người gọi là “láng giềng”. Bên láng giềng trái nơi tôi cư ngụ ở hẻm phố Hạ Môn, có một gia đình họ Trình. Mỗi sáng sớm, người cha đó súc miệng giữa sân, tiếng vang chấn động bốn phương. Sau bữa tối, cả nhà cùng hát thánh ca, niềm vui thiên luân theo giai điệu an bình bay qua tường. Bốn mươi năm sau, loại người này không còn nữa. Những “người hàng xóm” kiểu cũ đều tuyệt tích cả rồi, thay vào đó là một nhóm “người chung cư” đeo mặt nạ. Những người này rõ ràng thông minh hơn, giàu có hơn, bận rộn hơn, có nỗ lực mới có chiến thắng, khiến người ta khâm phục, nhưng lại khó khiến người ta yêu mến.
Đài Bắc đã thành đô thị không có láng giềng.
Khiến tôi thường xuyên nhớ về tòa cổ thành trước khi phát đạt. Nó nằm ở phía sau tivi và máy tính, ở mặt bên kia của máy fax và điện thoại di động. Ngồi lên xe xích lô là tôi có thể quay về, nếu như tôi tìm được một chiếc xe xích lô.
Nếu tôi có chín mạng sống
Nếu tôi có chín mạng sống, thì tốt biết mấy.
Một mạng sống, có thể chuyên để đối phó với cuộc sống thực tế. Vị hoàng tử Đan Mạch khổ mệnh từng nói, đã có nhục thân, thì định sẵn phải chịu đựng ngàn vạn sự nhiễu loạn bẩm sinh. Một trong những việc phiền phức nhất của người hiện đại, không gì bằng làm thủ tục; một mặt phiền phức nhất của làm thủ tục không gì bằng điền biểu mẫu. Biểu mẫu càng lớn càng dễ điền, nhưng muốn chỉnh lý và lưu trữ, lại càng nhỏ càng thuận tiện. Biểu mẫu là do cơ quan phát, đương nhiên cố gắng làm cho nhỏ, thế là người xin phải điền địa chỉ của mình vào những ô vuông nhỏ dài mà bốn cái tăm đã nhét đầy. Địa chỉ của nhiều người đều rườm rà, ngoài phố có hẻm, trong hẻm có ngõ, số nhà còn có mấy xẹt mấy, không biết làm sao mà điền vào cho được. Lúc này người điền biểu thật hy vọng mình là thần, có thể nạp núi Tu Di vào hạt cải, hoặc chỉ cần điền vào ô hai chữ “thiên đường”. Một tờ biểu điền xong, lại tới một tờ khác, trên đó còn có các điều hướng dẫn dày đặc, phải nhíu mày đọc kỹ. Còn về ảnh, con dấu, cũng như số của các loại giấy tờ tùy thân, lại càng không thể thiếu cái nào. Thế là nửa mạng sống đã đi tong, nửa mạng còn lại miễn cưỡng có thể dùng để hồi âm và họp hành, nếu như bạn tìm được thư từ liên quan, và chịu đựng được khói thuốc của người ngồi bên cạnh.
Một mạng sống, có ý định ở lại căn nhà cũ tại Đài Bắc, bầu bạn với cha và mẹ vợ. Cha đã hơn chín mươi tuổi, mắt phải mù, mắt trái nhìn không rõ. Ông vốn là người hướng ngoại và năng động nhất, thích cùng bà con lối xóm tụ tập tiệc tùng, giờ đây lại ngồi bó buộc trong thế giới cô đơn nửa tối nửa sáng, không ra khỏi cửa được, chỉ có thể truy tìm ký ức về người vợ đã khuất cách biệt hai mươi bảy năm, nhớ nhung con cái và cháu gái đang tản mát ở nơi xa. Mẹ vợ cũng đã qua tám mươi, năm năm trước bị gãy chân đến nay, bước đi không còn vững chãi, nhưng vẫn có thể nỗ lực dùng thân hình tập tễnh, chăm sóc cho người lờ mờ bên cạnh. Bà vốn là dì của tôi, từ khi mẹ tôi qua đời, bà bèn dời đến ở cùng, chủ trì những việc vặt vãnh của gia đình đã mất đi người nữ chủ nhân, sự chăm sóc ân cần đối với tôi, tình cảm như nửa người mẹ, khiến tôi thường cảm niệm trời không tuyệt đường sống của con người, tôi mất đi một người mẹ, thần lại bù đắp cho tôi một người khác.
Một mạng sống, dùng để làm chồng và làm cha. Trên thế giới này chắc là rất ít người chồng toàn thời gian, đàn ông bận rộn ngoại vụ, làm việc này chẳng qua là kiêm chức. Đàn bà làm vợ, thường thường lại là chuyên chức. Đàn bà điền biểu, có thể tự xưng là “chủ phụ” (housewife), nhưng chưa bao giờ thấy đàn ông tự xưng là “chủ phu” (househusband). Một người có được người vợ tốt, chắc chắn là ý trời, ơn thần như vậy nên tỉ mỉ cảm nhận, thiết nghĩ đừng xem là đương nhiên. Tôi cảm thấy mình làm chồng còn xứng chức hơn làm cha một chút, nguyên nhân chính là vì có một người vợ tốt. Làm mẹ đã đảm đang và trách nhiệm như thế, làm cha cũng vui vẻ mà “vô vi nhi trị” vậy. Cho nên nhà tôi thực hiện chế độ thủ tướng, tôi chỉ là vị nguyên thủ uy nghiêm trên tấm ảnh chụp chung. Bốn cô con gái mỗi người một phương, người chịu trách nhiệm viết thư, gọi điện thoại là người mẹ, làm cha thì luôn bận rộn những việc khác, chỉ âm thầm nhớ nhung các con trong lòng.
Một mạng sống, dùng để làm bạn. “Đàn ông kiểu cũ” của Trung Quốc làm chồng tuy chỉ là kiêm chức, nhưng làm bạn lại là chuyên trách. Người vợ nếu thành toàn cho chồng, để ông ấy trọng nghĩa khinh tài, đi làm một người bạn hào hiệp, “giang hồ gọi là tiểu Mạnh Thường”, thì có thể giành được tiếng hiền. Cái tác phong có bạn không vợ này, “đàn ông kiểu mới” đương nhiên không theo. Tuy nhiên đàn ông kiểu mới cũng không thể sống biệt lập, không kết bạn. Muốn biểu hiện là “đủ tình bạn”, thì phải có nhàn, có tiền, mới có thể khiến người gần vui người xa đến. Người bận rộn vì nghèo sao dám buông tay đi giao du? Tôi không tính là quá nghèo, nhưng lại nghèo nàn về thời gian, trong việc “đủ tình bạn” chỉ dám duy trì tư thế thấp, đa phần chỉ là ứng chiến. Đánh xong trận chiến tiêu hao với những người bạn bên cạnh, không còn dư lực để cùng những người bạn ở phương xa cách biển vượt châu, duy trì mạng lưới thư từ khổng lồ nữa. Diễn biến thành cục diện gần thì giao thiệp mà xa không đánh tới, tuy nói là tầm nhìn hẹp hòi, nhưng cũng là do sức dài mà tay ngắn.
Một mạng sống, dùng để đọc sách. Sách trên thế giới quá nhiều rồi, sách của người xưa còn chưa đọc thông được vài quyển vài bộ, sách của người nay lại cuồn cuộn kéo đến, nhấn chìm con người. Ai mà có thể đọc hết được những đại tác của bạn bè đề tặng, thì trong giới văn nhân có thể gọi là thánh nhân rồi. Có người đọc sách, là phóng túng tùy tính mà đọc bừa, chỉ đọc những cuốn sách mình thích, cũng có thể trở thành danh sĩ. Có người thì, khổ tâm nghiên cứu mà tinh đọc, chỉ đọc những cuốn sách của danh môn chính phái, lập chí trở thành thông nho. Tôi đây, luận về cuồng phóng không dám làm danh sĩ, luận về tu dưỡng không đủ làm thông nho, có chút lửng lơ. Nếu như tôi không sáng tác, thì có thể quy củ mà làm nghiên cứu; hoặc không dạy học, thì có thể thống khoái mà đọc sách. Nếu như có một mạng sống chuyên dành cho đọc sách, đương nhiên là không sao cả.
Sách muốn dạy cho tốt, cũng phải dốc toàn lực, không thể tùy tiện. Thầy khảo trò, dù sao phạm vi cũng có hạn, đề bài có hình. Trò khảo thầy, thường thường là vô hạn lại vô hình. Trước khi lên lớp phải chuẩn bị bài, sau khi tan lớp phải chấm bài, tất cả những thứ đó vẫn còn có hạn. Ngược lại, trong những lúc trò chuyện hỏi đáp với học sinh ngoài phòng học, càng có thể phát huy công lao của “nhân sư”, thi triển sự “giáo hóa” ngoài việc “dạy”. Thường ngôn “thầy giỏi có trò hay”, chưa hẳn đã hoàn toàn đúng. Thầy quá nổi tiếng rồi, bèn bận rộn ngoại vụ, chân không kịp ấm chỗ, sao có thể khiến người ta lại gần mà cảm thấy ấm áp? Ngược lại có một số người thầy “học rộng mà không thành danh”, có thể thường xuyên tiếp xúc với học sinh, tạo ra hiệu quả thực tế.
Một mạng sống khác nên hoàn toàn dùng để viết lách. Tác giả ở Đài Loan cực kỳ ít người là chuyên nghiệp, đa phần đều có chính chức khác. Chính chức của tôi là dạy học, may mắn là những gì tôi dạy và những gì tôi viết có khá nhiều điểm tương thông, không đến nỗi bài trừ lẫn nhau. Trước đây ở Đài Loan, ban ngày tôi dạy tiếng Anh, ban đêm viết tiếng Trung, khá là có thể song hành không sai lệch. Sau này ở Hồng Kông, ban ngày tôi dạy văn học thập niên ba mươi, ban đêm viết văn học thập niên tám mươi, cũng có thể mỗi việc một ngả. Tuy nhiên nghệ thuật là hoạt động cần sự đầu tư toàn thần, không có một nghệ sĩ kiêm chức nhưng nghiêm túc nào lại không đặt nghệ thuật vào vị trí chủ đạo. Rubens làm đại sứ Hà Lan tại Tây Ban Nha, mỗi buổi chiều đều vẽ tranh trong ngự hoa viên. Một vị thị thần đi ngang qua vườn, nói: “Ồ, nhà ngoại giao đôi khi cũng vẽ vài bức tranh tiêu khiển nhỉ.” Rubens đáp rằng: “Nhầm rồi, nghệ sĩ đôi khi vì để tiêu khiển, cũng làm chút ngoại giao.” Thơ Lục Du có câu: “Xem ông lòng dạ trùm vũ trụ, tiếc thay nghìn vạn chẳng thi triển được một. Uổng đem cái anh khái ấy vào bút mực, sinh dân miếu thờ chẳng phải thơ Đường. Ví phỏng trời mở nghiệp Thái Tông, Mã Chu gặp gỡ chẳng là ông thì ai? Hậu thế chỉ xem như thi sĩ, khiến ta vỗ án luống thở dài.” Lục Du cho rằng tài của Đỗ Phủ nên lập công, chứ không nên chỉ lập ngôn, cách nhìn hoàn toàn trái ngược với Rubens. Tôi tán thành cách nhìn của Rubens, cho rằng lập ngôn đã đủ để tự hào. Rubens sở dĩ truyền lại đời sau, là nhờ vào nghệ thuật của ông, chứ không phải ngoại giao của ông.
Một mạng sống, chuyên dùng để du lịch. Tôi cho rằng không có ai là không thích đi khắp nơi để xem xét: xem người khác nhiều hơn, xem phương xa nhiều hơn, không chỉ có thể nhận thức thế giới, cũng có thể nhận thức chính mình. Có người du lịch là đi tàu du lịch hạng sang, Tạ Linh Vận tái thế chắc cũng sẽ như vậy. Có người mang hành trang trên lưng, trèo đèo lội suối. Có người cưỡi xe đạp vòng quanh thiên hạ. Những điều này đều khiến tôi ngưỡng mộ. Điều tôi thường làm, lại là lái xe trường chinh, đi xem chân trời góc bể. Vợ tôi còn thích du lịch hơn tôi, cho nên hai vợ chồng vừa vặn làm bạn đường của nhau, điểm này e rằng Từ Hà Khách cũng phải ghen tị. Tuy nhiên, Từ Hà Khách là nhà du lịch lớn, nhà thám hiểm lớn, chúng tôi chỉ là đi chơi nông cạn mà thôi.
Cuối cùng còn thừa lại một mạng sống, dùng để sống những ngày tháng thong dong tự tại, xem hoa nở hoa tàn, người đi người lại, không đặc biệt phải theo đuổi điều gì, cũng không bị “thời hạn cuối” truy đuổi sau lưng.